1
Sản phẩm - Công ty

XÃ XUÂN LŨNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Đăng lúc: Thứ hai - 26/08/2013 08:48 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
XÃ XUÂN LŨNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

XÃ XUÂN LŨNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

Xã Xuân Lũng còn gọi là làng Dòng thuộc huyện Lâm Thao. Với diện tích tự nhiên hơn 11,2 km2; cách Đền Hùng - nơi thờ tự các vua Hùng 5 km. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Xuân Lũng đã nhiều lần thay đổi địa danh và địa giới hành chính. Thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất này thuộc bộ Văn Lang. Tên gọi Xuân Lũng (Vân Lung sách), đến thế kỷ XV đã thấy xuất hiện trong câu đối ở nhà từ đường họ Nguyễn Tam Sơn Tiết nghĩa thờ Nguyễn Doãn Cung ghi
XÃ XUÂN LŨNG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
Đặc điểm - Tình hình của địa phương
1
          Xã Xuân Lũng còn gọi là làng Dòng thuộc huyện Lâm Thao. Với diện tích tự nhiên hơn 11,2 km2; cách Đền Hùng - nơi thờ tự các vua Hùng 5 km. Trải qua các thời kỳ lịch sử, Xuân Lũng đã nhiều lần thay đổi địa danh và địa giới hành chính. Thời các vua Hùng dựng nước, vùng đất này thuộc bộ Văn Lang. Tên gọi Xuân Lũng (Vân Lung sách), đến thế kỷ XV đã thấy xuất hiện trong câu đối ở nhà từ đường họ Nguyễn Tam Sơn Tiết nghĩa thờ Nguyễn Doãn Cung ghi:
“Địa hoang tiên phá Văn Lung sách
Thiên Bảng danh đề Tiến sỹ bi”
Dưới thời Nguyễn năm 1831, vua Minh Mệnh cho đổi thị trấn thành tỉnh sau đến các phủ, dưới phủ là huyện tiếp đến tổng rồi làng. Làng Xuân Lũng thuộc tổng Xuân Lũng (gồm 8 làng), huyện Sơn Vy, phủ Lâm Thao, tỉnh Sơn Tây. Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, Xuân Lũng được sáp nhập với các làng thuộc tổng Xuân Lũng cũ thành xã Phong Châu. Năm 1954, xã Xuân chính thức được tách ra từ xã Xuân Huy. Năm 1968, sáp nhập hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc  thành tỉnh Vĩnh Phú, xã Xuân Lũng thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Vĩnh Phú. Năm 1996, tỉnh Vĩnh Phú được tách thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ. Năm 1999, sau Nghị định chia tách hai huyện của tỉnh Phú Thọ là Phong Châu và Tam Thanh, huyện Lâm Thao được tách ra từ huyện Phong Châu trở về vị trí như cũ, xã Xuân Lũng thuộc huyện Lâm Thao.
Điều kiện tự nhiên: Xuân Lũng có tổng diện tích tự nhiên là 682,39 ha, trong đó 59,4 ha thuộc miền trung du. Xã Xuân Lũng cách huyện lỵ Lâm Thao 6 km, cách Đền Hùng 5 km.
Phía Tây giáp xã Xuân Huy, phía Đông giáp xã Tiên Kiên, phía Bắc giáp Hà Thạch, phía Nam giáp xã Thạch Sơn.
 Đặc điểm dân cư: Năm 1937 làng có 927 xuất đinh (trong khi đó các làng khác rất ít, Hy Cương chỉ có 214 xuất đinh). Năm 1960 Xuân Lũng có 3.480 người. Đến năm 2000 dân số toàn xã là 5.300 người, đại đa số là người kinh, sống tập trung ở một số làng như làng Dòng, làng Lũng Ngòi… Trên mảnh đất Xuân Lũng từ xưa đến nay đã quần tụ được nhiều dòng họ. Cả xã có tới 22 dòng họ, trong đó có những dòng họ định cư khá lâu đời như họ Nguyễn, họ Đặng, họ Đào, họ Đỗ, họ Lê, họ Hoàng…
Thành tích qua các thời kỳ
I. Thành tích trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 - 1954)
          + Cuối năm 1927, tổ chức Việt Nam Quốc Dân đảng được thành lập do Nguyễn Thái Học đứng đầu đã về Phú Thọ xây dựng cơ sở và hoạt động. Phú Thọ trở thành một trong những tỉnh có phong trào Quốc Dân đảng mạnh ở Bắc Kỳ và nhiều thanh niên của Xuân Lũng cũng sôi nổi tham gia Đảng này, chiến đấu anh dũng trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái. Mặc dù thất bại nhưng khởi nghĩa vũ trang từ cuộc khởi nghĩa đã để lại nhiều bài học quý báu. Và ngày nay, bất cứ nhà nghiên cứu sử học nào khi nhắc đến khởi nghĩa Yên Bái do Việt Nam Quốc Dân đảng lãnh đạo không thể không nhắc đến tổ chức cơ sở Việt Nam Quốc dân Đảng lãnh đạo ở Xuân Lũng.
+ Năm 1941, phát xít Nhật mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam trong khi thực dân Pháp còn đang chiếm đóng, cả Pháp và Nhật thỏa hiệp với nhau bóc lột nhân dân ta. Lúc này người dân Xuân Lũng cũng bị giặc Nhật bắt đi phu phen, tạp dịch làm đường giao thông, sân bay Phú Thọ, làm bia đỡ đạn cho chúng. Ngoài ra, chúng còn dùng chính sách “ngu dân” để cai trị dân Xuân Lũng. Vốn có tiếng là “đất học” nhưng dưới chính quyền thực dân, mãi đến khoảng năm học 1920 - 1921 cả Tổng Xuân Lũng mới có một trường sơ học không hoàn chỉnh. Thiếu trường học, hơn 90% dân số của xã trong độ tuổi bị mù chữ. Nạn cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện được bọn thực dân khuyến khích phát triển nhằm ru ngủ ý chí đấu tranh của một tầng lớp thanh niên, nhân dân trong xã.
+ Tháng 3/1945 phát xít Nhật làm đảo chính Pháp độc chiếm Đông Dương, Pháp hèn nhát quỳ gối dâng Đông Dương cho Nhật. Trong bối cảnh rối ren như vậy, dưới sự lãnh đạo của cán bộ Việt Minh, nhân dân Xuân Lũng cùng với các xã khác đã biểu tình phá kho thóc của Pháp ở trường tiểu học Tiên Kiên chia cho nhân dân. 
Sau khi lật đổ Pháp, phát xít Nhật giữ nguyên bộ máy chính quyền bù nhìn cũ chỉ thay đổi tên gọi và đưa những tên tay sai đắc lực nắm giữ. Ở Xuân Lũng, bọn tay sai bắt dân phải nộp thóc cho Nhật, ráo riết lùng sục tìm bắt cán bộ Mặt trận Việt Minh. Từ tháng 7/1945, phong trào chống Nhật chuẩn bị tổng khởi nghĩa ngày càng dâng lên cuồn cuộn. Một số Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện và huyện bộ Việt Minh Lâm Thao đã được thành lập, cử cán bộ về giúp các địa phương thành lập chính quyền cách mạng ở xã. Hòa trong khí thế sôi sục đó, nhiều thanh niên Xuân Lũng đã tổ chức treo cờ đỏ sao vàng ở nhà trường. Lá cờ đỏ sao vàng lần đầu tiên tung bay trên vùng trời Xuân Lũng báo hiệu cách mạng thắng lợi.
Cuối tháng 8 năm 1945, dưới sự chủ trì của cán bộ Việt Minh tỉnh và huyện, một cuộc mít tinh lớn đã được tổ chức ở Đình Cả tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng và xã bộ Việt Minh. Ủy ban Nhân dân Lâm thời xã được cử ra gồm 5 ủy viên.
+ Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa mới ra đời đã phải đương đầu với rất nhiều khó khăn trở ngại, thù trong, giặc ngoài đe dọa, nền kinh tế kiệt quệ, hậu quả của chế độ cũ để lại, cuộc sống nhân dân vô cùng cực khổ. Trong khi đó, ở Xuân Lũng chưa có tổ chức Đảng, cán bộ chính quyền còn mới chưa có kinh nghiệm… Thực hiện chủ trương của Đảng và lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, dưới sự chỉ đạo của huyện bộ Việt Minh Lâm Thao, toàn thể nhân dân Xuân Lũng đã tập trung sức giải quyết nạn đói qua nhiều phong trào như “nhường áo xẻ cơm”, “hũ gạo đồng tâm”… đồng thời tăng gia sản xuất nhằm đảm bảo cuộc sống lâu dài. Bên cạnh đó, phong trào diệt giặc dốt ở Xuân Lũng cũng phát triển mạnh mẽ. Xã đã thành lập Ban bình dân học vụ và vận động tất cả các xóm đều tổ chức lớp bình dân học vụ. Trẻ già, trai gái ai không biết chữ đều hăng hái đi học. 
Cùng với phong trào bình dân học vụ, công tác giáo dục phổ thông được chú trọng. Sau cách mạng tháng Tám thành công, trường tiểu học Xuân Lũng trở lại hoạt động, duy trì 6 lớp học với gần 200 học sinh. Song song cùng việc diệt giặc đói, giặc dốt, ổn định cuộc sống, chính quyền và mặt trận xã đã chuẩn bị địa điểm, củng cố lực lượng vũ trang để chuẩn bị đánh giặc giữ làng.
+ Ngày 6 tháng 1 năm 1946 toàn dân nô nức đi bầu cử Quốc Hội khóa 1 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, người dân Xuân Lũng từ 18 tuổi trở lên cũng phấn khởi cùng nhân dân cả nước đi bầu cử Quốc Hội. 24/4/1946, nhân dân Xuân Lũng tiếp tục tham gia tham gia bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh và Hội đồng Nhân dân xã. Song song với việc củng cố chính quyền, mặt trận Việt Minh, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Hội nông dân Cứu quốc của xã được kiện toàn, bầu ra ban chấp hành chính thức. Toàn xã có tới trên 80% số dân tham gia vào các tổ chức. Giải quyết các nhiệm vụ cấp bách trước mắt như xây dựng củng cố chính quyền, xây dựng cuộc sống mới, chính quyền Xuân Lũng còn vận động nhân dân ủng hộ cuộc kháng chiến của đồng bào Nam Bộ. Sau hơn một năm phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ cấp bách dưới sự sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Trung ương Đảng, Chủ thịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo của các cấp ủy và chính quyền tỉnh trực tiếp là chính quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh xã, nhân dân Xuân Lũng đã cùng nhau vượt qua nhiều khó khăn, giành được nhiều kết quả quan trọng. Đó là những tiền đề để cán bộ và nhân dân xã Xuân Lũng vững vàng bước vào giai đoạn cách mạng mới.
          + Thực dân Pháp bội ước, tấn công ra Hà Nội và Hải Phòng, âm mưu cướp nước ta một lần nữa. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Hồ Chủ tịch đã ra lời kêu gọi nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Hưởng ứng lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng đó, nhân dân Xuân Lũng đã tích cực tham gia kháng chiến với một quyết tâm lớn, môt tinh thần “thà hi sinh tất cả chứ không chịu mất nước nhất định không chịu làm nô lệ”.
Tháng 3/1947, Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I họp tại Cát Trù (Cẩm Khê) đã thông qua Nghị quyết và phương hướng phát triển Đảng. Thời gian đầu do số Đảng viên ít nên huyện ủy Lâm Thao thành lập 2 chi bộ ghép ở Thượng huyện và Hạ huyện. Tháng 3 năm 1947, chi bộ Đảng xã Phong Châu được thành lập gồm 11 Đảng viên. Đây là tổ chức Đảng đầu tiên ở xã Phong Châu, tiền thân của tổ chức Đảng của xã Xuân Lũng, Hy Cương, Tiên Kiên, Xuân Huy sau này. Ngay sau khi thành lập chi bộ dã nhanh chóng bắt tay vào đẩy mạnh tuyên truyền cho nhân dân hiểu và tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, tăng gia sản xuất, kiện toàn Ban chỉ huy xã đội và lực lượng vũ trang địa phương. Đến cuối 1948, chi bộ đã phát triển thêm được hàng chục đảng viên.
Thời gian này, chi bộ xã tập trung sức động viên nhân dân làm nhiệm vụ “tiểu thổ kháng chiến” nhằm cản bước tiến quân giặc đồng thời thành lập ban tản cư đón tiếp đồng bào từ Hà Nội, Sơn Tây đến. 
Ngày 13 tháng 5 năm 1947 thực dân Pháp cho hàng trăm quân nhảy dù xuống thị xã Phú Thọ và một cánh quân thủy đi ca nô ngược dòng sông Thao đổ bộ chiếm Việt Trì. Chiến sự đãn lan gần tới Xuân Lũng, vì vậy việc cấp bách lúc này là chuẩn bị lực lượng chiến đấu, sơ tán đồng bào và củng cố địa phương vững mạnh về mọi mặt. Ở Xuân Lũng có một đại đội du kích chiến đấu cơ động. Trong những năm đầu kháng chiến, việc cấp dưỡng cho bộ đội gặp rất nhiều khó khăn, xã đã thành lập “Ban bảo trợ du kích” phân công hội viên đến từng nhà vận động mỗi gia đình có một “hũ gạo nuôi quân”.
+ Cuối năm 1948 đầu năm 1949, thực dân Pháp tăng cường thêm lực lượng đẩy mạnh hoạt động phá hoại cơ sở kinh tế cả ta tìm diệt bộ đội chủ lực đồng thời mở rộng phạm vi chiếm đóng. Trước tình hình đó, chi bộ đã lãnh đạo nhân dân địa phương làm vườn không nhà trống, lương thực được cất giấu kỹ… Các cán bộ xã, đảng viên, du kích ở lại bảo vệ xóm làng và sẵn sàng chiến đấu khi giặc đến. Tháng 4/ 1949, một toán địch khoảng 100 tên theo đường tiến vào Xuân Lũng đã dẫm phải bãi mìn do du kích chôn sẵn từ trước làm nhiều tên bị thương nặng. Vào làng chúng điên cuồng đốt phá thiêu rụi 59 nóc nhà, giết hại một số người dân. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy và Bộ tư lệnh liên khu 10, quân và dân trong tỉnh phối hợp với bộ đội chủ lực đánh địch trên khắp các ngả đường chúng tiến quân. Bị đánh tả tơi, sau gần một tháng hành quân càn quét, 1/3 lực lượng của địch bị ta tiêu diệt, bảo vệ xóm làng và tài sản của nhân dân.
Để khắc phục hậu quả sau cuộc càn quét, chi bộ xã đã vận động mọi người giúp đỡ nhau. Chỉ sau 1 tháng, 59 ngôi nhà bị giặc đốt đã nhanh chóng được dựng lại bằng tre lá. Trường cấp II tư thục của xã được thành lập (nay là Trường THCS Xuân Lũng). Từ năm 1949 - 1950 trở đi phong trào học tập trong xã phát triển rất mạnh.
+ Nhằm nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo của bộ máy chính quyền xã, đáp ứng nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, tháng 5/1949, xã Xuân Huy đã tiến hành bầu cử Hội đồng Nhân dân xã. Đã có hơn 95% cử tri trong xã tham gia bầu cử và lựa chọn được 15 đại biểu vào Hội đồng nhân dân xã.
Quán triệt chủ trương của Đảng vừa kháng chiến vừa kiến quốc, chi bộ tiến hành xây dựng chương trình phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện của địa phương, phấn đấu có đủ lương thực để ổn định cuộc sống của nhân dân và đóng góp cho kháng chiến.
Cuối năm 1949 do yêu cầu xây dựng các đơn vị bộ đội chủ lực mạnh trực tiếp tham gia chiến đấu, một số lớn thanh niên Xuân Lũng đã lên đường nhập ngũ. Chỉ trong một ngày dã có hàng trăm thanh niên học sinh tòng quân. Trải qua chiến đấu, nhiều người đã lập công xuất sắc. Một số người sau này trở thành cán bộ trung, cao cấp của quân đội như các đồng chí đại tá Lê Thiệp, đại tá Nguyễn Ngọc Sinh, trung tá Nguyễn Thực…
+ Tháng 1/1951, bốn máy bay khu trục Hen Cát của Pháp đã bắn rốc két, nã đạn pháo và ném bom xuống xóm Mới (Xuân Lũng) làm cháy 10 nóc nhà và bị thương 10 người… Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, nhân dân trong xã tích cực đẩy mạnh sản xuất, tiết kiệm, thực hiện khẩu hiệu “gặt nhanh giấu kỹ” chạy đua với giặc. Chú trọng chăn nuôi, khôi phục một số nghề thủ công như ép dầu, trồng sơn, dệt vải… góp phần cải thiện đời sống. Tổng kết thành tích kháng chiến, nhiều gia đình đã được Chính phủ thưởng Huy chương Kháng chiến hoặc Bằng khen.
+ Cuối năm 1951, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Hòa Bình, chi bộ và chính quyền xã đã cử hàng trăm anh em dân công đi phục vụ. Trong thời gian 3 tháng đoàn dân công của Xuân Lũng cùng các đơn vị bạn phải trèo đèo, lội suối vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí ra trận dưới tầm bom đạn của giặc. Tuy vậy. đoàn dân công xã vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ chiến dịch. Năm 1952, xã cử một đoàn dân công tới 300 người phục vụ chiến dịch Tây Bắc. Số người tự nguyện đi dân công vượt mức chỉ tiêu đề ra, chi bộ phải bình chọn để cử người đi…
+ Trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta, chi bộ và nhân dân Xuân Lũng đã vượt qua biết bao khó khăn gian khổ vừa phát triển sản xuất, xây dựng quê hương vừa thực hiện nghĩa vụ của hậu phương đối với tiền tuyến. Trong 9 năm, toàn xã đã có hàng trăm thanh niên tham gia bộ đội chủ lực, hàng nghìn người tham gia dân quân du kích, đi thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến. Trong đó có những người dã hi sinh anh dũng hoặc cống hiến một phần xương máu của mình cho nền độc lập tự do của Tổ quốc. Trong 9 năm đó, Xuân Lũng đã đóng góp cho Nhà nước 2.200 tấn thóc và gần 100 tấn thực phẩm. Tổng kết thành tích tham gia kháng chiến chống Pháp, nhân dân xã Xuân Lũng đã được Chính phủ tặng thưởng gần 300 Huân, Huy chương các loại cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Những kết quả đó là nguồn vũ to lớn giúp cho chi bộ và nhân dân Xuân Lũng vững tâm bước vào thực hiện nhiệm vụ trong gia đoạn cách mạng mới.
II. Thành tích trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước giai đoạn (1955 - 1975)
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi nhưng nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị - xã hội khác nhau. Nhiệm vụ của toàn Đảng và toàn dân ta trong giai đoạn này là tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa vững mạnh của cả nước giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thống nhất nước nhà. Do điều kiện địa dư quá rộng, theo chủ trương của Liên Khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Phú Thọ, xã Xuân Lũng được tách thành 2 xã Xuân Huy và Xuân Lũng, mỗi xã có một chi bộ riêng. 
Nhằm ổn định tình hình chính trị ở địa phương, một nhiệm vụ cấp bách lúc này là phải đấu tranh chống lại mọi âm mưu phá hoại của địch.
Về phát triển kinh tế: Trong những năm 1955 - 1957, nhân dân Xuân Lũng đã tích cực hưởng ứng chủ trương lớn của Đảng là tham gia đổi công. Những tổ đổi công trước đó hình thành ở Xuân Lũng là hình thức tự phát trong kháng chiến, do làm ăn có hiệu quả đã được Đảng tổng kết lãnh đạo xây dựng thành phong trào rộng lớn nhằm đưa nông dân vào đường làm ăn mới có tổ chức, xây dựng tinh thần giúp đỡ nhau trong sản xuất. Để hoàn thành nhiệm vụ cải tạo và khôi phục kinh tế trong thời kỳ lịch sử này, Huyện ủy Lâm Thao đã chỉ đạo các tổ chức Đảng ở cơ sở phải kiện toàn cấp ủy nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng ở nông thôn. Xuân Lũng đã tiến hành Đại hội chi bộ triển khai cho toàn thể Đảng viên và nhân dân học tập điều lệ hợp tác xã nông nghiệp, đồng thời làm thí điểm 3 mô hình hợp tác xã là hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng. Các hợp tác xã hàng năm giành 30% tổng sản phẩm nộp thuế nông nghiệp và thủy lợi, 30% ở khu vực tập thể, còn 40% chia cho xã viên theo ngày công lao động.
Về chính trị -  xã hội: 
Phong trào đấu tranh chính trị quyết liệt nhất của nhân dân Xuân Lũng là đấu tranh chống lại âm mưu và hành động của thực dân Pháp cấu kết với đế quốc Mỹ cưỡng ép đồng bào công giáo di cư vào Nam. Gần 8% dân số Xuân Lũng theo đạo thiên chúa giáo. Đánh giá rõ vấn đề nhạy cảm này, chi bộ đã cùng chính quyền và mặt trận tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân về chính sách tôn giáo, tự do tín ngưỡng của Đảng và Chính phủ. Mặt khác, tổ chức cho nhân dân học tập tài liệu nói về âm mưu thâm độc của địch; nhờ vậy tình hình chính trị ở nông thôn bước đầu ổn định.
Trong giai cấp nông dân trên địa bàn Xuân Lũng bắt đầu xuất hiện trở lại sự phân hóa giàu nghèo. Những khó khăn phát sinh trong cuộc sống là mầm mống hồi sinh những hiện tượng bóc lột ở nông thôn như cầm cố ruộng đất, trâu bò làm thuê với tiền công rẻ mạt.
Quan hệ sản xuất mới dần được thiết lập tạo cho nông dân ngày càng hiểu rõ về con đường làm ăn tập thể. Nhân dân Xuân Lũng từ làm ăn cá thể đã gắn với vận mệnh của hợp tác xã.  Cuối năm 1959, Xuân Lũng có 85% số hộ nông dân vào hợp tác xã, là một trong 7 xã của huyện Lâm Thao được công nhận căn bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp. Kết quả đó động viên nhân dân Xuân Lũng càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quyết tâm xây dựng nông thôn mới ngày càng giàu đẹp. Đến năm 1960, trên lĩnh vực kinh tế, Xuân Lũng đã đạt được nhiều kết quả to lớn. Sản xuất lương thực đã bảo đảm để ổn định đời sống của nhân dân. Chăn nuôi nhất là lợn phát triển mạnh thị trường dồi dào lương thực và thực phẩm.
Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)
Thực hiện Điều lệ mới thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, tỉnh ủy Phú Thọ đã ra quyết định thành lập Đảng bộ xã Xuân Lũng. Sau Đại hội các đồng chí Đảng ủy viên được phân công về các hợp tác xã lấy việc chấn chỉnh lại công tác “Ba khoán” để củng cố hợp tác xã. Một số hợp tác xã dã xây dựng được nhà kho, sân phơi, chuồng trại và nhà ủ phân, các công trình thủy nông được sửa chữa, tu bổ, cầu cống được xây dựng bằng bê tông, đường giao thông được mở rộng.
Đi đôi với việc đẩy mạnh sản xuất, công tác cải tiến quản lý hợp tác xã đã có tiến bộ. Quy mô hợp tác xã phổ biến quy mô thôn, bước đầu tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề như nuôi lợn, trâu bò, cá, lò gạch, lò ngói, xương mộc, nghề rèn… Các ngành nghề thủ công được chú trọng đẩy mạnh để sản xuất hàng tiêu dùng, công cụ, vật liệu xây dựng cho nhân dân…
Sau 5 năm thực hiện kế hoạch Nhà nước (1961 – 1965), Xuân Lũng đã có những biến đổi to lớn. Đó là việc xóa bỏ được quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu, thiết lập quan hệ sản xuất mới tiến bộ ở địa phương. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động ngày càng được cải thiện. Thắng lợi này dã tạo sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn cho nhân dân Xuân Lũng.
Cùng với những thành tích về phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn mới, sự nghiệp văn hóa, giáo dục và y tế của xã cũng có những bước tiến mới. Trường phổ thông cấp 1 Xuân Lũng được củng cố, số lớp, số học sinh ngày càng tăng. Năm học 1962 -1963 trường cấp II Xuân Lũng được thành lập.
Vừa sản xuất vừa chiến đấu góp phần đánh bại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ (1965 - 1968):
Trước tình hình đế quốc Mỹ gây ra cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân ngày càng ác liệt đặt cả dân tộc ta vào hoàn cảnh hiểm nghèo. Nhưng dưới sự lãnh đạo của  Đảng và Bác Hồ, nhân dân Xuân Lũng cùng cả dân tộc ta bình tĩnh đấu tranh chống lại kẻ thù. Từ giữa năm 1965, Đảng bộ Xuân Lũng đã triển khai chỉ thị của Ban Bí thư đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chi bộ “bốn tốt”. Mục tiêu nhằm tăng cường sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, thực sự sâu sát quần chúng, nắm chắc tình hình để chỉ đạo kịp thời, gắn bó mật thiết với cuộc sống lao động, chiến đấu của nhân dân.
Các phong trào “ba sẵn sàng” trong thanh niên, “ba đảm đang” trong phụ nữ và nhiều phong trào khác trong các ngành các giới đã tạo nên khí thế hừng hực chưa từng có trong lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu ở địa phương. Hàng ngày, trên đồng ruộng, nhân dân Xuân Lũng đã thực hiện khẩu hiệu “tay cày, tay súng” không ngừng nâng cao năng suất lao động để thay thế người đi chiến đấu. Đi đôi với chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, Đảng ủy dã tập trung lãnh đạo công tác phòng không. Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố lại từ 5% những năm trước đã tăng lên 10% so với tỷ lệ dân số và bố trí các tổ trực chiến. Công tác phòng tránh được tổ chức chu đáo nhằm hạn chế thương vong. Lực lượng dân quân du kích thực hiện khẩu hiệu hành động “Tay cày, tay súng”. “Giặc đến là đánh, giặc đi lại sản xuất”.
Trong 3 năm 1965 – 1968, đế quốc Mỹ tăng cường đánh phá dữ dội các mục tiêu ở tỉnh Phú Thọ nhiều nơi bị đánh phá mang tính hủy diệt. Trên địa bàn Xuân Lũng còn rất nhiều bằng chứng ghi tội ác của giặc Mỹ. Hàng năm, Xuân Lũng làm nghĩa vụ lương thực, thực phẩm với khối lượng lớn, thóc huy động tới 40% tổng sản lượng lương thực, 24 tấn thịt lợn, 4 tấn gà vịt, 80 kg đỗ lạc, ngoài ra xã còn làm nghĩa vụ gạch ngói, tre, lá cọ… đáp ứng nhu cầu chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
 Duy trì và đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục trong chiến tranh là một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể kéo dài nhưng sẽ giành thắng lợi, tất yếu sẽ phải xây dựng lại đất nước. Vì thế, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã dồn hết sức mình để chăm lo cho sự nghiệp “trăm năm trông người”. Nhiều thế hệ nam, nữ thanh niên Xuân Lũng được giáo dục trong nhà trường đã lần lượt lên đường chiến đấu trong những năm chống Mỹ.
Kết thúc cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, Xuân Lũng đã được Ủy ban nhân dân Tỉnh tặng Bằng khen: “Xã đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến lớn”.
Khôi phục kinh tế, đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ 2 của đế quốc Mỹ (1969 - 1972)
Ngày 1/11/1968, đế quốc Mỹ buộc phải chấm dứt không điều kiện việc ném bom bắn phá hóa miền Bắc. Tranh thủ thời gian tạm thời có hòa bình, Đảng ủy, Ủy ban xã tập trung lãnh đạo nhân dân khắc phục hậu quả chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế thực hành tiết kiệm, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân, góp phần củng cố hậu phương vững mạnh, đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu của cách mạng miền Nam, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu mở rộng chiến tranh của đế quốc Mỹ, tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc tiến lên.
Giữa năm 1969, Đảng bộ Xuân Lũng đã tổ chức Đại hội lần thứ 15 đánh giá kết quả công tác lãnh đạo của Đảng bộ nhiệm kỳ 1968 – 1969. Tiếp đó, Đảng bộ đã tổ chức cho toàn thể cán bộ đảng viên tham gia đợt sinh hoạt chính trị “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Đồng thời Đảng bộ ra Nghị quyết 195 của Bộ Chính trị về “Nâng cao chất lượng Đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh”… Qua thực hiện các cuộc vận động lớn trên, tình hình kinh tế - xã hội ở Xuân Lũng đã có những chuyển biến, vai trò lãnh đạo của Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ đảng viên được tăng cường một bước. Đó là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với nhiệm vụ khôi phục và phát triển kinh tế ở địa phương.
Trong khi toàn Đảng bộ và nhân dân Xuân Lũng đang tập trung khắc phục hậu quả trận lũ lụt, mất mùa năm 1971, đẩy mạnh sản xuất thì ngày 16/4/1972, giặc Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai với miền Bắc. Do có kinh nghiệm chỉ đạo trong công tác phòng không trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ nên nhân dân Xuân Lũng đã biết chủ động tổ chức sơ tán, lực lượng dân quân du kích luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. 
Trong hai cuộc chiến tranh phá hoại, đế quốc Mỹ đã 17 lần đánh phá và địa bàn Xuân Lũng. Chúng đã ném xuống 6.700 quả bom các loại, phá hủy cả đình, chùa, trường học và các mục tiêu kinh tế xã hội, làm 31 người chết và gây thiệt hại nhiều tài sản của nhân dân. Trong khói lửa chiến tranh, trong bom đạn đau thương, tình làng, nghĩa xóm đã được phát huy cao độ, Đảng ủy và Mặt trận xã đã vận động nhân dân giúp đỡ, cưu mang những gia đình bị nạn, giải quyết nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh ổn định tư tưởng và đời sống nhân dân để đẩy mạnh sản xuất.
Sau những tháng năm chiến tranh ác liệt, các hoạt động kinh tế ở địa phương từng bước được khôi phục và đạt được nhiều kết quả từ đó tác động tích cực đến các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của xã nhà.
Khôi phục kinh tế, dốc sức cùng cả nước giải phóng miền Nam 1973 -1975
Bước vào thời kỳ mới, Đảng bộ Xuân Lũng đã tổ chức Đại hội lần thứ 16 để kiểm điểm công tác lãnh đạo của Đảng bộ trong hai năm 1971 – 1972, thông qua phương hướng nhiệm kỳ 1973 – 1974.  Tiếp đó, Đảng ủy chỉ đạo tập trung củng cố hợp tác xã, tiến hành Đại hội xã viên, kiện toàn ban quản trị.
Đầu năm 1973, cử tri xã Xuân Lũng đã tích cực tham gia bầu cử Hội đồng Nhân dân 2 cấp huyện và xã.
 Về sản xuất nông nghiệp, các hợp tác xã quy vùng sản xuất củng cố các đội chuyên trách, sửa chữa kênh mương dẫn nước vào ruộng… Hàng năm xã đều gọi từ 21 đến 23 thanh niên nhập ngũ. Mỗi năm xã huy động từ 250 – 300 tấn thóc. Ngoài ra xã còn đảm bảo cung cấp đầy đủ nghĩa vụ thực phẩm và nhu cầu khác cho tiền tuyến.
Mười năm chống Mỹ cứu nước (1965 – 1975), Đảng bộ và nhân dân Xuân Lũng đã hoàn thành xuất sắc hai nhiệm vụ vừa đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, vừa chiến đấu chống lại hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ gây ra trên quê hương, vừa tích cực chi viện cho tiền tuyến với khả năng cao nhất của địa phương. Tuy trong điều kiện chiến tranh nhưng sự nghiệp văn hóa giáo dục, y tế vẫn phát triển, xã có trường cấp I, II có trạm xá để chăm sóc sức khỏe nhân dân. 
Theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc trong 10 năm chống Mỹ, cứu nước, gần một ngàn thanh niên Xuân Lũng đã lên đường chiến đấu trên các chiến trường, thực hiện mọi nhiệm vụ khác nhau. Trong số hơn 300 thanh niên Xuân Lũng có 72 đồng chí đã hy sinh thân mình để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc.
Với những đóng góp cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xã Xuân Lũng được Đảng và Nhà nước tặng thưởng 2 Huân chương chống Mỹ cứu nước hạng nhì, hạng Ba. Trên 800 người được tặng Huân chương, Huy chương các loại. Tập thể và nhiều cá nhân được tặng giấy khen, bằng khen, cờ luân lưu cả các cấp từ Trung ương đến huyện. Những phần thưởng cao quý đó là nguồn động viên to lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Xuân Lũng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quố những năm sau này.
III. Những thành tích đạt được trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (1976 – 1980)
Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy hy sinh gian khổ của nhân dân ta sau 21 năm đã thu non sông về một mối, Tổ quốc thống nhất cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong không khí vui mừng phấn khởi đó, Đảng bộ và nhân dân Xuân Lũng tổ chức mít tinh trọng thể mừng chiến thắng, đồng thời phát động phong trào thi đua lao động sản xuất để tham gia xây dựng chủ nghĩa hội.
Bước vào kế hoạch thực hiện phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (1976 – 1980) theo đường lối Đại hội lần thứ IV của Đảng Xuân Lũng có những thuận lợi cơ bản là: Đảng bộ đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu, nhất là trong sản xuất nông nghiệp, hợp tác xã đã được củng cố và phát triển. Cơ sở vật chất kỹ thuật đã được tăng cường, năng lực lãnh đạo và trình độ quản lý của cán bộ được nâng lên song vẫn còn nhiều khó khăn.
Sau một năm đất nước thống nhất, ngày 24/4/1976, cùng với cử tri cả nước, cử tri xã Xuân Lũng nô nức đi bỏ phiếu bầu cử Quốc hội nước Việt Nam thống nhất. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước có tác động rất lớn, động viên Đảng bộ và nhân dân trong các xã tích cực lao động sản xuất và đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, xã hội, hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị của địa phương.
          Thời kỳ này, Đảng bộ đã tập trung chỉ đạo xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất, trong đó việc xây dựng các công trình thủy lợi để đảm bảo nguồn nước tưới tiêu được coi là nhiệm vụ quan trọng. Năm 1978, xã đã xây dựng công trình đập nước Dộc Tê có diện tích mặt nước 13 mẫu, chứa được trên một triệu m3 nước, chủ động chống hạn cho các xứ Đồng Thưa, Đồng Đã, Đồng Tranh, Đồng Cõi… Đập Dộc Tế cùng với đập Gò Tròn và hệ thống kênh mương từ trạm bơm Diên Hồng đã góp phần chủ động tưới tiêu cho 75% diện tích ruộng đất của xã. Chăn nuôi của xã tiếp tục được duy trì. Xã đã xây trại chăn nuôi lợn ở rừng Đầm với 12 gian chuồng, góp phần làm nghĩa vụ thực phẩm với Nhà nước và cung cấp một phần con giống cho xã viên phát triển chăn nuôi gia đình. Đến năm 1980, tổng đàn lợn của tập thể và xã viên của xã có 851 con, trong đó có 204 con lợn nái.
Các ngành nghề như gạch, ngói, vận chuyển, dịch vụ… vẫn duy trì hoạt động. Sản xuất gạch, ngói tập trung ở các khu vực Vạn Phú, Xuân Hưng, Hồng Đoàn, Long Thịnh… trung bình mỗi năm cho ra lò khoảng 2 triệu viên gạch và 26 vạn viên ngói. Ngoài làm nghĩa vụ, sản phẩm gạch ngói đã đáp ứng nhu cầu xây dựng của tập thể và xã viên.
Cùng với củng cố, tổ chức sắp xếp lại hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã mua bán và hợp tác xã tín dụng cũng được kiện toàn đội ngũ cán bộ và củng cố hoạt động nhằm phục vụ tốt hơn những mặt hàng thiết yếu như muối, vải, cày, bừa… và đầu tư cho sản xuất ở hộ gia đình xã viên.
Ở địa phương, công tác xây dựng lực lượng dân quân được Đảng ủy và chính quyền xã chú trọng. Lực lượng dân quân đã thường xuyên luyện tập các phương án tác chiến để sẵn sàng tham gia chiến đấu khi có tình huống xảy ra. Công tác giữ gìn, bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn xã cũng được tăng cường. Lực lượng công an xã tích cực tuần tra canh gác bảo vệ trật tự trị an thôn xóm và kịp thời xử lý những hành vi vi phạm pháp luật.
Công tác văn hóa, giáo dục, y tế được đẩy mạnh. Năm học 1975 – 1976 trường phổ thông cấp I Xuân Lũng có từ 16 -18 lớp, trường phổ thông cấp II 9 lớp. Số học sinh và giáo viên cả 2 trường khoảng hơn 1.000 em và trên 30 thầy cô. Phong trào dạy tốt, học tốt được đẩy mạnh nên chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt. Do có phong trào giáo dục toàn diện nên năm học 1976 – 1977, ty Giáo dục Vĩnh Phú đã chọn Xuân Lũng để tổ chức Hội nghị chuyên đề “Đảng lãnh đạo giáo dục”. Sau hội nghị, xã đã được Ty Giáo dục tặng cho 1 máy phát điện và được đầu tư xây dựng phòng học cao tầng. Đây là những điều kiện thuận lợi giúp cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo ở Xuân Lũng ngày càng phát triển.
Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân được cấp ủy, chính quyền xã thường xuyên quan tâm. Phong trào trồng và sử dụng cây thuốc nam được đẩy mạnh. Tháng 7/ 1978 Hội Chữ thập đỏ của xã được thành lập với trên 500 hội viên ở 18 đội sản xuất.
Các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao được đẩy mạnh, đã kịp thời động viên nhân dân hăng hái thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới, gia đình văn hóa mới được phát động rộng rãi trong nhân dân.
Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ coi trọng, nhất là việc kiện toàn tổ chức cán bộ. Tháng 11/1978, Đảng bộ Xuân Lũng tiến hành Đại hội lần thứ 18 và Đại hội Đảng bộ xã lần thứ 19 (tháng 12/1980). Bên cạnh đó, Đảng ủy còn thường xuyên chăm lo củng cố chính quyền, mặt trận và các đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc đã tập hợp đông đảo các ngành, các giới trong xã phát huy sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân để tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội của xã. Các đoàn thể như Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên luôn giữ được vai trò xung kích trên mặt trận lao động sản xuất, thực hiện chính sách hậu phương quân đội.
Thực hiện kế hoạch 5 năm (1976 – 1980), Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Lũng đã vượt qua khó khăn thử thách để giành được một số kết quả đáng phấn khởi trên các lĩnh vực nhất là trong sản xuất nông nghiệp. Đảng bộ, chính quyền xã tổ chức chỉ đạo nhân dân thực hiện cải tiến kỹ thuật củng cố hợp tác xã trở thành đơn vị tiên tiến của huyện, tạo nền tảng vững chắc để thực hiện thắng lợi kế hoạch nhà nước 5 năm (1981 – 1985).
Tháng 12/1986, Đảng ta khởi xướng đường lối đổi mới trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đây là sự kiện vô cùng trọng đại trong đời sống chính trị của toàn Đảng, toàn dân ta, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử dân tộc. Hòa trong không khí phấn khởi của cả nước, Đảng bộ Xuân Lũng đã triển khai đợt sinh hoạt chính trị góp ý kiến vào dự thảo văn kiện Đại hội VI của Đảng. Ngày 20/9/1986, Đại hội lần thứ 23 của Đảng bộ Xuân Lũng cũng được tổ chức nhằm tìm ra những giải pháp thích hợp tháo gỡ những khó khăn của địa phương và thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy. Sau Đại hội, Đảng ủy tập trung lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất lương thực, thực phẩm, triển khai sâu rộng chính sách khoán 10 trong nhân dân. Nhờ đó, tổng sản lượng lương thực được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Sau 5 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng (1986 – 2000), kinh tế của xã có bước phát triển khá, niềm tin của nhân dân với Đảng bộ và chính quyền địa phương được củng cố thêm.
Sau 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng (1986 – 2000) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Huyện ủy Lâm Thao, Đảng bộ và nhân dân xã Xuân Lũng đã đạt được một số kết quả quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng lên về sản lượng do việc áp dụng các tiến bộ KHKT và giống mới. Bộ mặt nông thôn có nhiều thay đổi. Công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được đẩy mạnh. Đạt được những kết quả đó là do Đảng bộ và nhân dân cùng chung sức, chung lòng, vận dụng linh hoạt các chủ trương, đường lối của Đảng vào điều kiện thực tế ở địa phương. Những kết quả đạt được cùng với những khó khăn, hạn chế trong quá trình chỉ đạo thực tiễn là những kinh nghiệm quý báu để Đảng bộ và nhân dân Xuân Lũng thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ 28 nhiệm kỳ 2001 – 2005, phấn đấu cho nhân dân ngày càng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Xuân Lũng luôn cần cù, thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất, anh dũng bất khuất trong chiến tranh chống ngoại xâm. Trên hành trình của hàng ngàn năm đó, nhân dân Xuân Lũng đã trụ vững trên quê hương mình, vượt qua bao thử thách nghiêm trọng của thiên tai, địch họa, góp phần tô thắm trang sử vàng của dân tộc Việt Nam. Những giá trị vật chất tinh thần vật chất của cha ông sáng tạo gắn liền với nền văn minh lúa nước sông Hồng được các thế hệ nhân dân Xuân Lũng giữ gìn, kế thừa và phát huy trong suốt chặng đường phát triển làm nên diện mạo mới của quê hương./.
Cổng Chùa Phổ Quang
Chùa Phổ Quang

                               Nguồn: Trích trang giaithuong.vn
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty