1
Sản phẩm - Công ty

Nguyễn Doãn Cung

Đăng lúc: Thứ ba - 10/03/2015 04:21 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Nguyễn Doãn Cung - phẩm chất ngoại giao
Nguyễn Doãn Cung - phẩm chất ngoại giao
 
Trùng thuyên bi ký - Bia ghi việc trùng tu Từ vũ, đặt ở Văn chỉ làng Dòng (xã Xuân Lũng, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) ghi Nguyễn Doãn Cung đỗ tiến sĩ khoa Kỷ mùi, niên hiệu Quang Thuận 10 đời Lê Thánh tông (1469). Đây là thời kỳ trường Quốc học, còn gọi là Nhà Thái học, cơ quan giáo dục cao nhất nước, nơi sĩ tử học tập và có kho Bí thư tàng trữ sách và in ván sách, được mở rộng và phát triển. Trong bài tán, cũng ở bia này, do sinh đồ Nguyễn Nho Kiêm, cháu nội của Nguyễn Doãn Cung soạn, có câu: "Một nhà thi lễ" rất đáng lưu ý: Nguyễn Doãn Cung xuất thân từ một gia đình đại quan, vốn kiến thức Hán học sâu rộng, thấm nhuần quan điểm trung quân ái quốc từ trong máu. Đó chính là một môi trường vô cùng thuận lợi rèn đúc nên những phẩm chất đặc biệt ở ông
Về ý chí theo nghiệp đèn sách của Nguyễn Doãn Cung ư? Đến nay, ở làng Dòng chỉ còn lưu truyền giai thoại ông theo gương Xa Dận, đời Tấn, bên Tầu, bắt thật nhiều đom đóm bỏ vào túi vải thưa thay ánh sáng đèn đọc sách thâu đêm mỗi lần xuống đồng Thần (ở làng Sơn Tường) săn sóc mộ thân phụ. Ông đoạt học vị khoa bảng năm 27 hay 37 tuổi? Điều đó không quan trọng. Chỉ biết ông đậu tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân trong một khoa thi lấy đỗ 20 tiến sĩ với đề văn sách hỏi về phép trị thiên hạ của các đế vương.
Trong công nghiệp làm quan danh giá của mình, Nguyễn Doãn Cung luôn chứng tỏ là một công bộc mẫn cán, thanh liêm, chính trực, không để lại điều tiếng gì về tham nhũng và xách nhiễu dân lành. Nghe kể, nhà ông xưa tọa lạc trên đỉnh đồi xóm Hống không thể gọi là dinh cơ, vì đó chỉ là năm gian nhà lá lợp lá cọ bình thường, không hơn gì mấy nhà có máu mặt trong làng. Kể cả khi ông nằm xuống, đền thờ ông cũng được xây cất đơn giản, đúng như ước nguyện của ông lúc sinh thời.
Với nhãn quan chính trị sâu sắc và bản lĩnh điều hành chính sự vững vàng Nguyễn Doãn Cung đã sớm khẳng định được vị trí và uy tín của mình trong đội ngũ quan lại nhà Lê Sơ thế kỷ thứ XV. Ông cùng với một số cộng sự được giao phó một trọng trách lịch sử: Qua nhà Minh lo việc ứng đối quan hệ đến quốc thể và giao tiếp với sứ thần phương Bắc khi họ vào nước ta. Chính sử cho biết, đến đời Lê Thánh Tông, nước Việt ta mới ban bố Quốc triều hình luật, tức Luật Hồng Đức. Đối tượng được lưu ý về trách nhiệm bảo mật trước nhất là các quan đại thần của triều đình, trong đó đương nhiên là có Nguyễn Doãn Cung, những người từng sống trong cung cấm, có điều kiện tiếp xúc với nhiều văn bản, tài liệu tuyệt mật mà bọn thám báo hải ngoại đang muốn truy tìm để khai thác. Quốc triều hình luật ghi rất rõ: "Sứ thần đi sứ nước ngoài hay sứ thần nước ngoài vào trong nước, mà trò chuyện riêng (nhân dân dọc đường mà thông đồng riêng tư cũng đồng tội) hoặc lấy hối lộ mà tiết lộ công việc nước nhà thì đều phải tội chém, các vị chánh phó sứ cùng các nhân viên cùng đi, biết mà cố ý dung túng thì cũng cùng một tội". Có những quy định cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị thời sự: "Triều đình có lệnh cấm quan lại và dân chúng không được mua bán vụng trộm hàng hóa với nước ngoài" hoặc "Háng hóa, người Trung Quốc mà ẩn lậu vào nước ta, không báo cáo thì người chịu tội biếm truất".
Tất nhiên, Nguyễn Doãn Cung hiểu rõ hơn ai hết những quy định này. Không hề hà khắc, trái lại, rất minh bạch và nhân văn, hợp lòng người và cần thiết cho mọi thời. Dưới triều Lê Sơ, Nguyễn Doãn Cung đã hai lần được cử làm Chánh sứ Bắc triều, tức trưởng một phái đoàn ngoại giao Việt Nam đàm phán với triều đình phương Bắc. Đoàn sứ thần nước ta đã vượt qua sự cách trở về địa lý, về ngôn ngữ, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn trong suốt cuộc hành trình cũng như trong giao tiếp, tránh những sơ hở dẫn đến tiết lộ việc quân cơ, quốc gia đại sự. Lần đi sứ thứ nhất, Đại Việt sử ký toàn thư, q. 3, tr. 303, chép: "Mùa đông, tháng 10, ngày 19, sai bồi thần là Nguyễn Doãn Cung, Bùi Xương Trạch, Nguyễn Hán Đình sang nước Minh nộp cống hàng năm". Đây là năm Kỷ dậu thứ 20 (1489), Minh Hoằng Trị thứ 2. Nguyễn Doãn Cung có bài biểu dâng vua Minh. Sau lễ cống nạp, đoàn sứ thần An Nam nhận sắc thư và các đồ thưởng cho vua ta. Quan chức và tùy tùng đoàn ai cũng có đồ thưởng cả. Lần thứ 2 Nguyễn Doãn Cung đi sứ, Đại Việt sử ký toàn thư, q. 4, tr. 21, cũng ghi rõ: "Ngày Canh tý 15, nước Minh sai... Từ Ngọc sang làm lễ viếng Thánh Tông hoàng đế; ngày 17 Nhâm dần, sai Hàn lâm viện Thị giảng Lương Chừ và Vương Chẩn sang sách phong (vua) làm An Nam quốc vương. Trước đây, tháng ấy, ngày mồng 9, vua Hiển Tông sai Binh bộ Thượng thư Cống Xuyên bá Lê Năng Nhượng, Thiếu bảo Trịnh Công Đán, Hình bộ Tả thị lang Nguyễn Doãn Cung đến trạm Thọ Xương để tiếp ứng bọn Lương Chừ, Từ Ngọc... như lệ cũ vậy". Đó là năm thứ 2 Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Thống, Kỷ mùi, 1499, tháng 12.
Thông thường, những người xuất dương như Nguyễn Doãn Cung đều có thơ đi sứ và nhật ký ghi lại những nơi ông dến, những người ông gặp, những việc ông làm cùng bao nỗi nhớ cố quốc chơi vơi, những nỗi vất vả trên lưng ngựa, trên những chuyến xe viễn hành... tiếc thay đều không lưu giữ được, kể cả trong trí nhớ người đời! Còn thử thách nào vẻ vang và cũng nặng nề hơn khi ông phải thực hiện sứ mệnh ngoại giao trong hoàn cảnh nước ta là một nước nhỏ, bị lệ thuộc (phải cống nạp), đã thế lại nghèo, trong khi nước láng giềng lớn Trung Hoa thì tỏ ra không biết điều, không bao giờ từ bỏ âm mưu thôn tính nước ta. Trong quá trình giao tiếp với đối phương, Nguyễn Doãn Cung đã tìm cho mình một lối đi cốt sao giữ được đạo nhà và lòng trung với nước đồng thời để lại cho chúng ta một bài học sâu sắc về cung cách ứng xử đối với một nước lớn: Phải đặt lợị ích dân tộc trên hết, luôn giữ thể diện quốc gia, kiên trì đường lối hòa bình, độc lập chủ quyền, chứng tỏ cho thiên hạ biết Việt Nam là một dân tộc có văn hóa, rất tôn trọng người anh em núi liền núi, sông liền sông. Sứ thần phương Bắc hẳn đã phải khẩu phục, tâm phục?
Nếu Nguyễn Doãn Cung nổi bật lên ở tư chất một chính khách có tài trong cuộc đấu trí với ngoại bang thì Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, con trai ông (đậu tiến sĩ năm 1518), lại tỏ rõ lòng yêu nước của mình khi tuẫn tiết để phản đối Mạc Đăng Dung, lúc đó bị coi là giặc nội xâm, đã tiếm quyền nhà Lê (1527). Chính sau nhiệm kỳ đi sứ lần thứ hai đó Nguyễn Doãn Cung đã được thăng chức Lại bộ Tả thị lang, chức quan đứng hàng thứ ba trong Bộ, dưới Thượng thư và Tham tri, coi việc bổ nhiệm, thuyên chuyển quan văn, ban thưởng phẩm cấp, khảo xét công trạng, tặng tước ấn, thảo chiếu, sắc và giữ nguyên chức đó từ khoảng tháng giêng năm Canh thân (1500) đến tháng 11 năm Tân dậu (1501). Ông qua đời vào một trong hai năm đó. Để ghi công trạng ông, triều đình đương thời đã ban cho ông 8 chữ vàng: "Đặc Tiến Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu". Câu đối hiện còn lưu truyền ở địa phương đã khẳng định ông là người đầu tiên mở trang học vấn của làng (địa hoang khai phá) và bảng trời (thiên bảng) cũng đã không bỏ xót tên ông (Địa hoang khai phá Vân Lung sách - Thiên bảng danh đề tiến sĩ bi).

Nhà văn: Nguyễn Văn Toại
Di Động: 01666 214 996
Từ khóa:

phẩm chất

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

test
Công ty Cổ phần Làng Dòng
Sản phẩm - Công ty