1
Sản phẩm - Công ty

Người làng Dòng đầu tiên thăm Hà Nội 1920

Đăng lúc: Thứ tư - 17/07/2013 22:52 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Người làng Dòng đầu tiên thăm Hà Nội 1920

Người làng Dòng đầu tiên thăm Hà Nội 1920

Người làng Dòng đầu tiên thăm Hà Nội 1920
Người làng Dòng đầu tiên thăm Hà Nội 1920
(Thanh lịch Tràng An có còn đủ sức đồng hoá?)
http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/
Bài được xuất bản: 26/03/2009 09:03 GMT+7
1 - Dân Thăng Long chủ yếu từ… tứ chiếng họp lại nhưng nền văn hoá có căn gốc sâu xa và sức cảm hoá mạnh mẽ ở Hà thành đã tiếp nhận tất cả mà không sợ bị lai tạp...
Dân trí cuối thế kỷ 18
Cụ Nguyễn Văn Đức, xóm Lũng Bô, được coi là người đầu tiên từ làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ dám mạo hiểm về Hà Nội “có việc”, dù khi đó cụ không còn trẻ nữa. Cuộc “viễn du” này được truyền tụng rất lâu trong đám con, cháu cụ.
Thanh lich Trang An co con du suc dong hoa?
Phố Huế hồi đầu thê kỷ XX. Tới 95% dân đi chân đất, kể cả binh sĩ. Nhà cao nhất là 2 tầng.
Ảnh tư liệu
 

Sinh năm 1880, khi cụ 4 tuổi thì triều đình Huế đã ký “hoà ước” công nhận quyền “bảo hộ” của thực dân Pháp. Chuyện quân Pháp chiếm nước ta, cụ Đức chỉ được nghe đấng thân sinh - cụ Chiếm - kể lại lõm bõm. Khi lính Pháp từ Sơn Tây qua bến Trung Hà sang Hưng Hoá, cụ Chiếm được cử về “do thám”, nhưng chỉ còn kịp quan sát cuộc duyệt binh thị uy của chúng mừng chiến thắng. Tổng số lính Pháp chỉ khoảng 40 tên, quân phục chỉnh tề, súng trên vai, bước đều tăm tắp trước dinh tỉnh có treo cờ tam tài. Điều lạ lùng gây ấn tượng là chúng đi ủng, khi tiến bước “ắc ê” thì cả cái chân giơ lên thẳng đuỗn, đầu gối không gập.

Do vậy, một thời dân Xuân Lũng kháo nhau rằng người Pháp không có đầu gối(!) Tình hình thông tin chậm trễ và lạc hậu tới mức giới thân hào của làng Xuân Lũng cứ nghĩ rằng khi đó cụ nghè Nguyễn Khuyến vẫn đang là tổng đốc ba tỉnh Sơn-Hưng-Tuyên; do vậy họ đã rất ngạc nhiên vì sao quân Pháp chiếm Hưng Hoá mà không gặp sự đề kháng nào đáng kể. Cụ Chiếm hiến kế cho các vị chức sắc làng Dòng rằng nếu quân Pháp đánh tới đây thì cứ huy động dân làng lấy ổi xanh đổ ra đường để (nếu) lính Pháp bị ngã sẽ không thể tự đứng dậy được. Dân trí như vậy mà không mất nước mới là sự lạ. Đáng chú ý là Xuân Lũng từ lâu được coi là “làng học”, ngay triều Lê đã có 4 vị đỗ đại khoa; Văn Chỉ của làng đã có 3 tấm bia ghi chi chít tên các vị đỗ đạt các kỳ thi nho học.

Văn hoá Tràng An đã ảnh hưởng tới làng trung du Xuân Lũng
Từ 1919, người Pháp bãi bỏ các kỳ thi nho học, do vậy đông đảo nho sinh của làng Xuân Lũng bị hẫng, vì quay sang học chữ quốc ngữ thì quá muộn. Họ bất mãn, gọi thời thế khi đó là “nhố nhăng”, vì bất lực thấy văn hoá tư sản, thương trường, đã xâm nhập văn hoá truyền thống. Một số nhà nho Xuân Lũng đi theo cuộc khởi nghĩa của quan Đề Kiều, một số quay sang nghề làm thuốc, trong đó có cụ Đức.

Cụ bốc thuốc tại nhà và còn đi chữa bệnh lưu động nhiều làng trong vùng, do vậy cụ đã về tận Việt Trì mua các vị thuốc. Quãng đường từ Xuân Lũng về Việt Trì chỉ dài 25km (hai ga tàu hoả) nhưng đó là chốn đô thị buôn bán nhộn nhịp, không phải ai cũng dám chen chân tới. Đại lý Đức Sinh được cụ tín nhiệm vì không bao giờ cân điêu, giao hàng xấu và tính cao giá. Dần dần cụ hiểu trên thương trường cũng có văn minh, văn hoá, dựa trên chữ tín; chứ không phải chỉ toàn điêu toa, lừa lọc.

Có lần, cụ đã lấy đủ 25 vị thuốc, chỉ còn thiếu một vị là Bắc Mộc Hương. Đức Sinh xin khất và hứa: Ông cứ đem thuốc về, chưa cần trả tiền. Mai kia khi “hàng về” tôi sẽ cho người đưa hầu ông tận nhà, khi đó ông trả tiền luôn thể.

Nhưng máu liều nổi lên, cụ Đức gửi lại số thuốc đã mua (chưa phải trả tiền), một mình lấy vé tàu từ Việt Trì “xuôi thẳng” Hà Nội, nhằm chính hãng Đức Sinh ở phố hàng Buồm. Đường ở miệng chứ ở đâu mà phải lo. Nghĩ thế để thêm vững dạ. Nhưng cụ bắt đầu phát hoảng khi con tàu ầm ầm lao qua cầu Sông Cái, tiến vào nội đô. Té ra, cầu này bắc ở “lưng chừng trời”, phía dưới toàn là nhà ngói, cứ như bát úp, có cả những nhà 2 tầng. Cụ ngợp với phố xá như bàn cờ, người đi như mắc cửi, đèn điện như sao sa, tiếng rao hàng như chợ vỡ…
Thanh lich Trang An co con du suc dong hoa?
Ga Hàng Cỏ của Hà Nội xưa. Nơi cụ Đức lần đầu về tới Hà Nội
Ảnh tư liệu
 

Nhưng cụ lo nhất là làm sao ứng xử cho thanh lịch để dân Tràng An khỏi cười mình về những điều sơ suất. Bước xuống ga Hàng Cỏ, vô số “xe tay” (xe hai bánh, vành sắt, có hai càng, do người kéo) xô tới, lễ phép mời khách. Chỉ cần nói địa điểm, xe sẽ đưa khách tới tận nơi. Xe vừa hạ càng ở vỉa hè, ông chủ hãng Đức Sinh đã vội mặc áo dài chạy ra đón, tay còn lập cập cài nốt khuy, rồi tự móc túi trả tiền xe. Khi biết mục đích của khách, ông chủ rước cụ Đức lên gác, đãi cơm rượu ngày ba bữa, mời ở chơi Hà Nội vài ngày, cho một người nhà dẫn cụ đi dạo phố.

Đó là dịp Tết Trung thu, phố xá nhộn nhịp những đoàn múa sư tử phục vụ công cộng hoặc tư gia. Nhà nào có con gái đều rất ý thức bày ra trước hiên những mâm cỗ đẹp để khoe sự khéo tay, cũng là khoe nền nếp gia phong. Khi cụ Đức tỏ lời khen hai con kỳ lân làm bằng múi bưởi cứ “giống như thật” thì chủ nhà liền bước ra, khẩn khoản mời cụ vào nhà tiếp đãi, thù tạc nhau bằng cả thơ, phú. Cũng nhờ ông Đức Sinh, cụ biết kiểm tra cái cân bằng cách đặt đồng bạc “hoa xoè” lên cân thử.

Ngày cuối, ông chủ thưa chuyện: “Hàng” của tôi đã lên đến Việt Trì; nhưng nếu ông muốn, ông có thể lấy ở đây, hoặc về lấy ở Việt Trì, đều được.

Từ đó, cửa hàng thuốc của cụ Đức ở làng Xuân Lũng, năm 1928 dọn lên xón Trung, có niêm yết giá (bằng chữ nho); khách hàng bất kể giàu nghèo, sang hèn, đều được đối xử trọng thị. Khi có phong trào tóc ngắn (bài trừ hủ tục), cụ Đức là người tiên phong ở Xuân Lũng cắt bỏ cái búi tóc củ hành ở sau gáy. Ai định đi Hà Nội đều tới hỏi cụ kinh nghiệm, nhất là cách ứng xử. Cụ bảo: "Dù nghèo, tôi sẽ cố gắng cho thằng Lợi về Hà Nội “học chữ Tây”.

Tràng An đồng hoá những người nhập cư
Địa danh Thăng Long có từ đời Lý, khi đó còn là một địa điểm nhỏ hẹp, thưa dân. Do vậy, trong quá trình phát triển, dân Thăng Long chủ yếu từ… tứ chiếng họp lại. Tuy nhiên, nền văn hoá có căn gốc sâu xa và sức cảm hoá mạnh mẽ ở Hà thành vẫn thu nhận họ mà không sợ lai tạp. Con trai cụ Đức là một trường hợp như vậy. Đó là cụ Lợi, sinh 1912, được cha “mạnh dạn” cho về Hà Nội học ở trường sư phạm để sau này dạy tiểu học. Đủ vinh hạnh, vì khi đó, mỗi huyện chỉ có một hoặc hai trường tiểu học.

Ra trường đúng vào năm “kinh tế khủng hoảng” (1930) thầy giáo Lợi chưa được bổ nhiệm mà tạm dạy học vài năm ở quê cho đám trẻ làng. Khi trường Tiểu Công Nghệ ở Hà Nội tuyển giáo viên văn hoá, lập tức thầy xin ứng thí và từ năm 1940 đã trở thành người Hà Nội, gia đình thầy sống với dân lao động ở bãi Nghĩa Dũng. Việc giao tiếp với láng giềng, đồng nghiệp và cha mẹ học sinh, sao cho mọi người thừa nhận “đúng là gia đình nhà giáo” là cả một vấn đề. Nhưng “vấn đề” lại té ra đơn giản theo giải thích của cụ Lợi: Người Việt Nam ra nước ngoài tự dưng không vứt rác, không chen lấn, ít cau có... Rồi dần dần hoà nhập cách sống… Người “nhà quê” ra Hà Nội nếu định sống lâu dài thì cũng vậy thôi: phải nhìn người ta và phải để người ta trông vào.
Thanh lich Trang An co con du suc dong hoa?
Phố Tràng Tiền xưa. Xe bò, xe người kéo, sang trọng nhất là xe đạp
Ảnh tư liệu
 

Sau khi về hưu, cụ Lợi còn sống thêm tới 37 năm nữa. Suốt thời gian đó, cụ dạy học cho bọn trẻ “học đuối” có nguy cơ bỏ học; vì với chúng, việc học đã trở thành cực hình. Có nhiều đứa, cụ phải dỗ dành và cho quà chúng mới chịu học “miễn phí”. Thoạt tiên, cụ chỉ dạy tiểu học, đúng với trình độ của cụ. Nhưng rồi có những đứa đã vào được cấp II mà vẫn “đuối”, vẫn có nguy cơ bỏ học; thế là cụ phải tự học để dạy tiếp cho chúng. Trong 15 năm cuối cùng, cụ dạy để bọn trẻ thi vào được cấp III. Đám tang cụ năm 2008 có tới 1/3 khách viếng là học sinh “học thêm” cụ. Nhiều đứa, khi cưới đã đưa cả vợ đến chào cụ, nay lại đưa cả gia đình đến viếng, đầu têu là cháu Quý. Hỏi ra mới biết, trong tổ thơ, trong Ban Khuyến Học hoặc trong tổ người cao tuổi của cụ, hầu hết các cụ là dân nhập cư về Hà Nội, nhưng tất thảy đều được văn hoá Tràng An đồng hoá.

Những cư dân mới của Hà Nội đương đại
Tổ 47 phường Phương Liên thuộc đất cũ của làng Trung Tự mà trước đây 68 năm tôi đã có dịp theo mẹ tới thăm một gia đình nào đó. Tôi không sao nhận ra cảnh quan cũ, với đường làng nhỏ hẹp, ngóc ngách, hai bên là bụi tre, cúc tần, mọc bên các ao bèo đầy nòng nọc với tiếng ếch kêu sau trận mưa. Năm 1991 khi tôi mua đất ở đây để làm nhà thì làng này đã từ lâu thành phường. Tôi hỏi ông tổ trưởng “quê ở đâu”, ông bảo: Quê cháu ở chính làng này, các cụ tổ đã định cư mười mấy đời ở đây rồi. Nói khác: Đây là một làng quê 100% đã được “Hà Nội hoá”.

Dẫu vậy, làng này vẫn duy trì hội đình, hội chùa và nhiều phong tục cũ. Hôm cụ Lợi mất, các cụ bà theo sự điều khiển của cụ Minh, ăn mặc kiểu vãi chùa, mang theo phướn, cờ phật, túc trực thành dãy dài ở ven đường để tiễn đưa người quá cố. Đám tang này không phân biệt gì với đám cụ Ba Lịch - người gốc tại đây - mất vào năm trước.

Nhiều người ở tổ 47 trở thành người Hà Nội giống trường hợp chị Yến. Chị có gốc ở Thanh Xuân, lấy chồng tại đây; còn ông bố chồng là người Hưng Yên, nhập cư Hà Nội trước chị khoảng ba chục năm. Chị Yến tự hào về tổ Chữ Thập Đỏ của mình: Chị đi từng nhà nhắc nhở tiêm chủng cho trẻ, xin quần áo cũ, giặt sạch, gấp nếp, để sẵn đấy. Hễ có đợt quyên góp từ thiện là bao giờ tổ này cũng có thành tích. Chị có bà mẹ chồng bị ung thư, đang được chiếu xạ ở viện K, chị phải đích thân đưa cụ đi điều trị, rồi đợi đón về; vì “nhờ mấy bác xe ôm thì không yên tâm”, mặc dù cụ không muốn phiền các con. Nhưng thành tích lớn nhất của chị Yến là đã sinh cho Hà Nội một vận động viên ở đội bắn súng quốc gia, đoạt giải nhất cá nhân Đông Nam Á: Hoàng Thanh Tùng. Chị khoe: Chính cụ Lợi đã dạy thêm cho thằng con út của chị, mua cả phở cho nó ăn để nó đồng ý học…

Theo cụ Lợi, vấn đề khá đơn giản: Văn hoá cũng phát triển theo thời đại để thích nghi. Dẫu vậy, cần dạy lũ trẻ nếp sống để vun đắp và phát triển văn hoá Tràng An thay vì dạy chúng lập trường. Trước khi mất, cụ kịp biết rằng nay Hà Nội đã mở rộng gấp mấy lần, nhưng không thấy cụ biểu lộ vui hay buồn.
Ý kiến đóng góp và bài vở gửi cho Thư Thăng Long - Hà Nội xin liên hệ với địa chỉ: thuthanglong@vietnamnet.vn
PHẢN HỒI CỦA ĐỘC GIẢ:
Ho ten: tran thi thanh yen
Dia chi: dong da ha noi
E-mail: yeuviyeu_213@yahoo.com
Tieu de: thu cam on
Noi dung: toi xin chan thanh cam on tac gia bai nay mac du rat ban ron ve cong viec xa hoi nhung bac van quan tam theo doi tung hoat dong van hoa cua phuong va dac biet ve hoat dong chu thap do cua cum dan cu 9a,ngoai viec quyen gop ung ho chung toi con tham gia lam tu thien quyen gop giup do nhung gia dinh co hoan canh kho khan ,cac chau tan tat, tre mo coi, thuc hien phuong cahm la lanh dum la rach, truc tiep den dong vien va an ui, dac biet cua cum dan cu 9a. Chung toi se co gang het minh truoc su mong moi cua moi nguoi de co gang hoan thanh cong tac.

Ho ten: Phạm Lâm
Dia chi: Hà Nội
E-mail: phamlam0803@yahoo.com
Tieu de: Cảm ơn vietnamnet
Noi dung: Toi rất thích bài báo này, đề nghị Vietnamnet đăng nhiều bài như thế này để bạn đọc hiểu hơn về văn hóa VN. Bài này có tác dụng giáo dục hơn rất nhiều so với những gì đao to búa lớn.Cảm ơn vietnam net. Cảm ơn tác giả.
Kinh gởi ...

Theo tôi thì bài viết này rất hay, và đáng để người Tràng An ngày nay học tập. Tuy nhiên những phong cách thanh lịch như thế là của các cụ, của các người Tàng An ngày xưa mới có, chứ người Trang An ngày nay chỉ có văn hóa : " Kem chửi , phở quát " và chặt chém khách vô tội vạ,
Ho ten: Nguyễn Minh Châu
Dia chi: Thanh Hoá
E-mail: chaunm@yahoo.com.vn
Tieu de: rất hay
Noi dung: Một bài viết có vẻ dung dị, nhưng đầy suy ngẫm
Ho ten: Nguyễn Trung Hải (quê: Xuân Lũng)
Dia chi: Rizal, Philippine
E-mail: x223455x@yahoo.com
Tieu de: Giá trị đích thực
Noi dung: Rất tâm đắc với những mẩu chuyện mà tác giả đưa ra. Những dẫn chứng sinh động về một thời kỳ lịch sử của dân tộc, khi mà nền văn hóa của đất nước chịu ảnh hưởng không nhỏ của phương Tây. Câu hòi mà tác giả đề cập đến không chỉ mang tính nhất thời trong một giai đoạn lịch sử mà xuyên suốt quá trình phát triển và hội nhập của đất nước. Sâu xa lắm khi nhìn nhận văn hóa Hà Thành qua cái nhìn của một người con đất tổ.
…Vân vân…
Từ khóa:

hà nội

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty