1
Sản phẩm - Công ty

NGUYỄN MẪN ĐỐC - ĐIỂM NGỜI SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC

Đăng lúc: Thứ bảy - 21/12/2013 14:07 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
NGUYỄN MẪN ĐỐC - ĐIỂM NGỜI SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC

NGUYỄN MẪN ĐỐC - ĐIỂM NGỜI SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC

NGUYỄN MẪN ĐỐC - ĐIỂM NGỜI SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
NGUYỄN MẪN ĐỐC - ĐIỂM NGỜI SÁNG VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
 
Từ nhiều trăm năm nay đã có không ít sách, báo, bài viết và tư liệu lưu trữ về Nguyễn Mẫn Đốc, người họ Tam Sơn-Tiết Nghĩa, quê làng Dòng, xã Xuân Lũng, huyện Sơn Vi, nay là huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Sinh trong thế gia vọng tộc, cha là tiến sĩ Nguyễn Doãn Cung, bậc đại thần của triều Lê. Sớm có tư chất thông minh hơn người, lại có chí theo nghiệp học nên trong khoa thi năm Mậu Dần, niên hiệu Quang Thiệu 3, đời Lê Chiêu Tông, năm 1518, đầu đề văn sách hỏi về việc biết người, yên dân, Nguyễn Mẫn Đốc đã đậu Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn), tức là lọt vào nhóm Tam khôi cùng Ngô Miễn Thiệu (Trạng nguyên), Lưu Khải Chuyên (Thám hoa). Các sách Đăng khoa lục ghi ông đỗ năm 27 tuổi. Trùng thuyên bi ký, một trong ba tấm bia khoa bảng dựng năm 1793 đặt ở Văn chỉ làng Dòng cho biết ông đoạt được học vị Bảng nhãn năm 21 tuổi.
Làng Dòng là mảnh đất có truyền thống hiếu học từ lâu đời. Người thành đạt về đường nho học ở các thứ hạng khác nhau thời nào cũng có, nhưng người chạm được tên vào học vị Bảng nhãn như Nguyễn Mẫn Đốc thì không có người thứ hai. Ông đỗ tiến sĩ sau Nguyễn Doãn Cung 49 năm, sau thầy học là Trạng nguyên Vũ Duệ, người làng Trình Xá, cùng bản huyện, 28 năm, sau Hoàng giáp Nguyễn Chính Tuân, họ Nguyễn Ba ngành, người đồng hương, 4 năm, cùng thời với Nguyễn Hãng, họ Nguyễn Mả Nội, anh rể, lúc đó đang theo học ở Quốc Tử Giám. Làm quan đến chức Thị thư Hàn lâm viện, chuyên soạn các chế, cáo, chiếu chỉ của nhà vua.
Sự kiện Nguyễn Mẫn Đốc vì phù Lê, diệt Mạc mà tuẫn tiết được các tài liệu lưu trữ đương thời ghi nhận chính xác đến từng chi tiết và về cơ bản là thống nhất. Theo chính sử, năm 1527, Mạc Đăng Dung đã tiếm ngôi nhà Lê. Con người xuất thân võ bị này thi đỗ Đệ nhất Đô lực sĩ, làm quan nhà Lê đến chỉ huy sứ, mỗi ngày một mở rộng thanh thế, nhân lúc nhà Lê suy yếu đến bước tận cùng bèn trở mặt soán nghịch, dựng nên vương triều Mạc. Vua Lê Chiêu Tông phải bỏ chạy vào Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay). Sử sách không ghi rõ gia cảnh riêng của Nguyễn Mẫn Đốc lúc đó ra sao, chỉ biết ông đã từ bỏ mọi vinh hoa phúc lộc dành cho một đại thần cùng Vũ Duệ và môn đồ Nguyễn Hoán chiêu tập vài trăm binh mã, quyết tâm ứng nghĩa, nhằm hướng hoàng thượng vừa bôn ba mà chạy theo. Bị quân Mạc truy lùng ráo riết, đến châu Lang Chánh thì cùng đường, một số người thoái chí, muốn quay lại liền bị Nguyễn Mẫn Đốc lớn tiếng mắng: "Loài chó lợn! Mau về nhà mà hưởng phú quý!". Nguyễn Mẫn Đốc bèn viết một bức thư bằng máu chích ra từ đầu ngón tay, đoạn đính lên cánh diều rồi thả vào thành, sau đó đập đầu vào đá mà chết để tỏ rõ nghĩa khí của một bề tôi trung thần. Về sự kiện này có tài chép: Nguyễn Mẫn Đốc cùng Vũ Duệ và Ngô Hoán thống xuất hương binh theo vua đến Thanh Hoa thì bị đứt liên lạc, không biết nhà vua lưu tán ở đâu, đã hướng về Lăng tẩm bái vọng rồi cùng nhau tự vẫn. Tài liệu khác cho hay: Thầy trò Nguyễn Mẫn Đốc tìm được vua ở Lạc Thổ, nay là huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, bàn mưu việc lớn nhưng lại bị nhà Mạc binh hùng, thế mạnh đánh bại.
Theo tiến sĩ Nguyễn Hữu Mùi thì trong lịch sử khoa cử Việt Nam các triều đại phong kiến luôn coi trọng ngạch văn hơn nghạch võ. Trong cuốn Truyền thống hiếu học và hệ thống Văn miếu, Văn từ, Văn chỉ ở Vĩnh Phúc, do ông viết và "Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Vĩnh Phúc" xuất bản năm 2011, ông đã đưa ra một nhận định thỏa đáng: "Một điều tưởng như nghịch lý nhưng lại được cả xã hội chấp nhận là các vương triều quân chủ Việt Nam thời độc lập tự chủ đều do những người giỏi võ khởi dựng, còn khi điều hành đất nước, lại phải coi trọng ngạch văn, tức phải sử dụng đội ngũ văn quan để cai trị đất nước" (tr. 144). Trước khi nhà Lê thiết lập Võ học sở, tức trường Võ học ở Thăng Long, năm 1721, thì suốt cả một thời kỳ dài việc tuyển chọn người tài trong quân đội chỉ được thông qua hình thức tuyển cử hoặc khảo hạch. Quan niệm chính thống cho rằng, trong một xã hội bình yên dưới chính chế tốt đẹp của một vương triều không thể thiếu văn được.
Bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc cũng là một văn quan.
Công trạng của Nguyễn Mẫn Đốc đã được các thời đại nhìn nhận và đánh giá thế nào? Sau khi đậu Bảng nhãn, ngoài việc được bổ nhiệm ngay vào chức vị cao trong triều, Nguyễn Mẫn Đốc, theo lệ, còn được cấp 18 mẫu đất thế nghiệp để dùng riêng và thu tô từ 130 đến 300 mẫu chi phí ngoài lương bổng, phần này gọi là lộc điền. Đó là chưa kể các đặc ân khác. Như vậy, từ xa xưa, nhà nước phong kiến Việt Nam đã coi việc đạt được những thành tựu cao trong lĩnh vực khoa cử cũng có thể sánh ngang với những cống hiến trên mọi lĩnh vực xã hội khác. Một sự thừa nhận phân minh, mang tính nhân văn rõ rệt và có ý nghĩa thực tiễn lâu dài.
Không nên quên rằng, triều Lê trung hưng trong điều kiện nhà Mạc đang rất mạnh, không dễ lật ngược thế cờ. Bởi vậy, giải pháp hữu hiệu trước mắt là phải tập hợp lực lượng, giương cao ngọn cờ phù Lê, diệt Mạc. Ngày nay, việc tìm kiếm hài cốt những anh hùng, liệt sĩ đã thất lạc để quy tập về các nghĩa trang và giải quyết chế độ, chính sách đối với những cá nhân, những gia đình có công đối với Tổ quốc đã trở thành nét đẹp trong đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc ta. Nhưng ở thế kỷ XVI, thời kỳ đầy nhiễu nhương, tao loạn, việc nhà Lê sớm tiến hành tổng rà soát lại danh tính những trung thần, nghĩa sĩ đã tận trung, tận hiếu trước sự tồn vong của mình để đền ơn, đáp nghĩa, như cách nói đời nay, hẳn phải được coi là một chủ trương sáng suốt và hợp lòng người? Không gì khác, đó chính là nghệ thuật thu phục nhân tâm. Nguyễn Mẫn Đốc là một trong 13 bề tôi có công theo vua Lê mà tiết nghĩa được truy phong Tiết Nghĩa Đại Vương, thụy Nhã Lượng. Năm 1667 (Đinh Mùi), đời Cảnh Trị thứ 5, niên hiệu vua Lê Huyền Tông, cho phép lập "Tiết Nghĩa từ" ở quê hương, xuân thu nhị kỳ, gia ban quốc tế - chủ tế phải người nhà nước mới xứng tầm. Đây cũng là lúc triều Mạc Kinh Vũ, triều vua cuối cùng của nhà Mạc tan rã. Tên Nguyễn Mẫn Đốc được ghi vào bia đề danh tiến sĩ khoa Mậu Dần, niên hiệu Quang Thiệu 3 đặt ở Quốc Tử Giám (bia số 13). Hài cốt của ông được liệm trong quan, ngoài quách đồng, cho rước về quê táng tại một quả đồi ở xóm Lũng Bô. Còn được dựng Lăng miếu thờ theo kiểu thờ một vương tước, vì thế nơi ấy có tên là Rừng Lăng (Lăng nghĩa gốc là đồi đất lớn). Đôi câu đối tương truyền là vua ban rất được lưu truyền trong dòng họ và làng xã một thời: "Tảo tuế khôi khoa thiên hạ hữu - Trung thần tiết nghĩa thế gian vô" - Đỗ đạt sớm thì thiên hạ có người - Ít tuổi mà tiết nghĩa thế gian không có ai". Xã chí Xuân Lũng, bản chữ Hán và quốc ngữ hiện còn lưu giữ ở Viện nghiên cứu Hán Nôm, do lý trưởng Nguyễn Liên, tiên chỉ Lê Như Bách và trưởng bạ Nguyễn Viết Đạo thị thực, ký tên và áp triện năm 1943, còn ghi lại đôi câu đối: "Thần trung tử hiếu cương thường tại - Địa hiếu thiên lưu tiết nghĩa trường" - ý rằng, bề tôi trung, con cháu hiếu thảo, cương thường còn, tiết nghĩa bền. Sách Tam khôi bị lục của Hồ Ngu Thụy, dịch giả Nguyễn Hữu Tùng, Bộ Giáo dục Trung tâm học hiệu Sài Gòn, 1968, gọi ông là "Thiếu niên kim tiết" (tuổi trẻ mà khí tiết như vàng). Các triều vua nối tiếp nhau đều có sắc phong cho Nguyễn Mẫn Đốc, tất cả là 10 đạo, bản gốc hiện vẫn còn được cất giữ tại đền thờ ông. Ông được phong Thành hoàng làng Xuân Lũng, Thượng đẳng phúc thần, một nhân thần bên cạnh thiên thần Thành hoàng Cao Sơn Đại Vương. Một số làng xã trong bản huyện cũng tôn ông làm Thành hoàng làng mình. Vinh dự cao quý ấy, lấy gì đo được?
Trùng thuyên bi ký khi bàn về ông có bài tán:
Khoa bảng đỗ đầu
Theo vua tiết nghĩa
Sinh tử đều vinh
Cương thường giữ trọn.
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân Hà Nhậm Đại, niên hiệu Sùng Khang 9 (1574) đã có thơ khen Nguyễn Mẫn Đốc in trong tập Khiếu vịnh thi tập (bản dịch):
Nhà vua gặp nạn quyết phò nguy
Hoạn nạn, lời thầy vẫn nhớ ghi
Quán trọ mắng ngay phường chó lợn
Bo bo danh lợi ấy mà chi
Nhớ lúc ba sinh niềm vui cuối
Nghĩa vì một chết để làm ghi
Tiết trong, nước bạc lưu muôn thuở
Tên ở Lam Sơn, đá chẳng đi.
Hơn ai hết, Nguyễn Mẫn Đốc thấm sâu nguyên tắc đạo đức của nho gia gồm tam cương là ba đạo vua tôi, cha con, vợ chồng và ngũ thường là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Theo nhà bác học Lê Quý Đôn, đó là rường cột giữ trời đất, là cột đá yên vững nhân dân... từ xưa tới nay chưa có ai từ bỏ điều đó mà có thể đứng vững trong trời đất. Vua, thầy và cha là ba bậc mà Nguyễn Mẫn Đốc phải phụng thờ như một. Ông là người chịu ảnh hưởng giáo dục về nhiều mặt của gia đình và dòng họ mà thân phụ Nguyễn Doãn Cung là tiêu biểu. Bị vướng  trong cái lưới Khổng giáo, ông không thể không lấy tu thân làm gốc, có cái gốc ấy mới mong tề gia, bình thiên hạ. Ông đã tự vượt lên, bứt ra khỏi cái lưới bủa của "lễ", một cái đức bên trong của ngũ thường để mà hành đạo. Mở rộng quan hệ cha con, anh em, từ phạm vi nhà ra đến phạm vi cả nước. Thử nghe Tăng Sâm, một trong bốn Á Thánh phối thờ cùng Khổng Tử ở Văn chỉ làng Dòng xưa, đã viết trong cuốn Đại học: "Hiếu là để phụng sự vua đây, đễ là để phụng sự bề trên đây". Xả thân vì vua, Nguyễn Mẫn Đốc đã tỏ rõ lòng trung quân ái quốc của mình, chứng minh sự hết lòng phụng sự bề trên của mình, đưa lại vinh quang đời đời cho gia tộc, cho quê hương bản quán. Đấy chính là điểm ngời sáng trong phẩm chất tính cách của một con dân, hơn thế, của một đấng trung thần hiếm gặp. Sắc ban cho lập "Tiết Nghĩa từ" chính là nhằm tôn thờ lòng yêu nước của ông, một vấn đề còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với chúng ta. Xưa đã vậy, huống nữa là bây giờ, khi mà tình hình thế giới và khu vực đang có những diễn biến phức tạp, đe dọa đến sự an nguy của nước nhà thì vấn đề chăm lo giáo dục lòng yêu nước cho toàn dân, nhất là cho thế hệ trẻ, càng phải được đặt lên hàng đầu trong mọi nghĩa vụ đối với non sông, đất nước. Nhà thơ Ngọc Bái trong trường ca Lời cất lên từ đất, Nxb "Quân đội nhân dân", Hà Nội, năm 2000, viết về cuộc khởi nghĩa Yên Bái năm 1930, có câu thật tâm đắc: "Lòng yêu nước không bao giờ là cũ - Là hành trang nặng gánh với thời gian".
Xung quanh việc Nguyễn Mẫn Đốc tuẫn tiết không phải không có những ý kiến đáng để suy ngẫm: "Ví thử trong triều nhà Lê có người nào có nghĩa khí, ra sức với nhà Lê, giết kẻ phản nghịch, ngăn việc hung ác để trị tội kẻ bạn thần thì việc khôi phục xã tắc vẫn có thể làm được, sao lại cam tâm giữ chức, nương tựa sủng lộc, để tạm hưởng phú quý, mong được khỏi chết?" (Xem: Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb "Khoa học xã hội", Hà Nội, năm 1998, tập III, tr.110). Toàn thư phê phán những kẻ cầu an, gió chiều nào che chiều ấy. Dưới triều đại phong kiến, đề cao tinh thần yêu nước là đề cao lòng trung quân, ái quốc. Yêu nước là trung với vua, vì vua là đại diện cho một nước. Bác Hồ đã dạy: "Trung với Đảng, hiếu với dân". Nội dung về cơ bản là một, khác chăng là ở cách diễn đạt mang đậm dấu ấn thời đại. Hành động của Nguyễn Mẫn Đốc là một nghĩa cử cao đẹp, pha chút hiệp sĩ, hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc ấy và được công luận tán thưởng. Chính Vũ Duệ cũng vì không chịu ăn lộc nhà Mạc đã đeo quả ấn ngự sử đâm đầu xuống cửa bể Thần Phù mà quên sinh, được phong "Bề tôi Tiết Nghĩa", để lại hình ảnh bất tử về một kẻ sĩ "chết là thể phách, còn là tinh anh" (Nguyễn Du). Còn có Nguyễn Hãng, nhà văn, tác giả hai bài phú nổi tiếng Tịch cư ninh thểĐại Đồng phong cảnh, một Cao sĩ tiết tháo đã dứt khoát từ chối lời mời hợp tác của nhà Mạc, lên Đại Đồng khắc khoải tìm minh chủ, được nhà Lê ban hiệu "Thảo Mao Dật Sĩ" - người học trò ẩn dật dưới mái lều tranh và truy phong Tiết Nghĩa. Dật Sĩ từ, đền thờ ông ở xóm Chùa đã được xây cất mới, khang trang hơn, tương xứng với vị trí của ông hơn. Hoàng giáp Nguyễn Chính Tuân cũng đã vì phù Lê mà từ quan về quê Xuân Lũng, lui vào núi Anh Đài, sơn ải dưỡng kỳ nuôi chí lớn phù Lê và cũng được triều đại nhà Lê truy phong Tiết Nghĩa. Có thể nói đấy là những mẫu người đặc biệt của một thời đại đặc biệt với nhiều biến động khác thường đã có ảnh hưởng sâu sắc tới triết lý sống cũng như hành động của một thế hệ và đã để lại cho đời sau những bài học nhân sinh sâu sắc, tưởng cũng nên tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm. Đâu phải ngẫu nhiên dòng họ Nguyễn Mẫn... ở Xuân Lũng được vua ban cho đổi sang họ Nguyễn Trung? Con cháu trong họ hôm nay hỏi mấy ai quan tâm đến vinh hạnh có một không hai này không?
                                                                                        Tháng 12-2013
                                                                            Nhà văn Nguyễn Văn Toại
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 12 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

test
Công ty Cổ phần Làng Dòng
Sản phẩm - Công ty