1
Sản phẩm - Công ty

Cách thức và nội dung thi cử ngày xưa

Đăng lúc: Thứ hai - 01/07/2013 23:28 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Cách thức và nội dung thi cử ngày xưa

Cách thức và nội dung thi cử ngày xưa

Ba tấm bia cổ ở Văn Chỉ làng ta khắc tên 205 vị tiền bối, kèm cả danh vị về khoa cử mà các vị đã đạt được: Bảng nhãn, hoàng giáp, tiến sĩ, giám sinh, cử nhân, sinh đồ, tú tài, nhị trường, nhất trường, nho sinh… (từ cao đến thấp).
Cách thức và nội dung thi cử ngày xưa
Ba tấm bia cổ ở Văn Chỉ làng ta khắc tên 205 vị tiền bối, kèm cả danh vị về khoa cử mà các vị đã đạt được: Bảng nhãn, hoàng giáp, tiến sĩ, giám sinh, cử nhân, sinh đồ, tú tài, nhị trường, nhất trường, nho sinh… (từ cao đến thấp).
Một sai lầm của nhiều người thời nay là coi tiến sĩ, cử nhân “thời xưa” cũng tương tự như  tiến sĩ, cử nhân “thời nay”. Thực ra, ngoài cái tên gọi, có sự khác nhau rất xa về nội dung đào tạo, mục đích đào tạo và sự nghiệp cá nhân.
Muốn biết thứ bậc (giá trị) các danh vị trên, cần phải hiểu cách thức thi cử ngày xưa. Muốn biết mục đích đào tạo cử nhân, tiến sĩ ngày xưa, cần phải hiểu nội dung thi cử thời ấy. Từ đó mới thấy tiến sĩ xưa và nay quả là khác nhau rất nhiều.
 
Rất hiếm trường và toàn trường tư
 

Ngày xưa, nước ta sử dụng chữ Trung Quốc, gọi là chữ Hán hoặc chữ Nho. Viết thì y như nhau, nhưng đọc lên thì người Trung Quốc và người Việt lại phát âm khác nhau. Số người biết chữ thời xưa chỉ chiếm 1% dân số. Do vậy, một câu viết bằng chữ Hán khi đọc lên thì 99% dân Việt không hiểu nghĩa. Điều bất lợi này khiến ai đi học đều tốn rất nhiều công sức và thời gian để có thể đạt trình độ (gọi là) “biết đọc, biết viết”. Ngày nay, với chữ quốc ngữ, chỉ cần 3 tháng chứ không phải 3 năm như ngày xưa.
Rất hiếm người có nhu cầu đi học và đủ điều kiện kinh tế để đi học. Tất cả, đều là trường tư (gọi là “lớp” thì đúng hơn), trừ Quốc Tử Giám ở kinh đô. Làng Xuân Lũng có trường tư vào khoảng đầu thế kỷ 15, khi có một nhà nho di cư từ Hải Dương lên làng ta, lập ra xóm Mới. Số học sinh thời ấy tất nhiên rất ít (vài chục), nhưng đủ mọi lứa tuổi và trình Dù vậy, từ đó Xuân Lũng bắt đầu có truyền thống theo đuổi nghiệp học. độ. Đến năm 1938 khi cụ tổng sư Bùi Nguyên Phổ mở lớp dạy chữ nho, số học sinh cũng chỉ khoảng 3 chục.  
 
Càng hiếm người đỗ đạt

Do vậy, chỉ cần qua được kỳ sơ khảo thấp nhất, đã đủ để dân làng tôn vinh. Trong vòng 400 năm, làng ta chỉ có 205 vị được ghi danh vào bia, trong đó có những vị mới ở trình độ “được dự thi Hương”. Tính trung bình, ở làng học Xuân Lũng cứ hai năm mới có một vị đỗ đạt. Phải đến năm 1730 làng ta mới có Hội Tư Văn - nghĩa là có vài chục vị sống cùng thời, tập hợp nhau xây dựng Văn Chỉ. Tuy nhiên, không một làng nào trong huyện Sơn Vi đủ điều kiện làm như vậy
  
Cách thức thi cử thời xưa

Thời xưa, muốn dự thi phải qua một kỳ khảo hạch, nếu qua được, mới được dự 3 kỳ thi chính thức: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Khảo hạch để loại bớt những người quá kém, nhằm tránh quá tải (về số người dự thi) cho các kỳ thi chính thức.
 
- Khảo hạch được thực hiện ngay ở địa phương (gọi là Xứ) do quan tỉnh huy động các vị tú tài, cử nhân tại địa phương làm giám khảo. Thí sinh ở xa nhất cũng chỉ cần đi bộ một ngày là tới địa điểm thi. Thi xong, không cấp bằng, mà chỉ phân thành 2 loại: đủ, hoặc không đủ, trình độ dự thi Hương. Tuy vậy, ai qua được kỳ khảo hạch đã đủ vinh hạnh (được gọi là nho sinh) - bia Văn Chỉ làng ta có 11 vị nho sinh. Nếu đứng đầu kỳ khảo hạch càng được tôn vinh: gọi là ông (đỗ) Đầu Xứ.
Chúng ta đã nghe tên các ông Xứ: Xứ Nhu (Nguyễn Khắc Nhu: lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng); Xứ Tố (Ngô Tất Tố, nhà Văn)… Làng ta có ông Xứ Thanh và ông Xứ Sắc.
 
- Thi Hương

Nghĩa là thi tại “quê”. Thực ra, trên cả nước triều đình định ra một số địa điểm, mỗi địa điểm nhận thí sinh (hàng ngàn) của một số tỉnh. Từ năm 1434 (thi cử đi vào nền nếp), thi Hương gồm 4 kỳ (còn gọi là 4 trường).
      - Kỳ 1: thi kinh nghĩa, thư nghĩa. Tức là đề thi hỏi về nghĩa của Kinh và Sách. Các cụ xưa phải học thuộc 4 sách, 5 kinh (tứ thư, ngũ kinh) và một số tác phẩm nho giáo khác (Bắc Sử, Nam Sử)… Kỳ thi này tương đối dễ, vì chỉ cần thuộc bài và trả lời trung câu hỏi. Dẫu vậy, phải ngồi nghĩ và viết từ sáng tới tối mịt mới xong. Thí sinh, ngoài giấy, bút, mực, tiện nghi, còn phải tự dựng một cái lều (tránh mưa, nắng) và mang đủ thức ăn, nước uống…
Những kiến thức chứa trong hàng vạn trang sách mà các cụ xưa phải thuộc và hiểu, ngày nay rất ít tác dụng thực tế. Hoàn toàn không có chút kiến thức nào về khoa học tự nhiên.  
      - Kỳ 2: thi chiếu, biểu. Chiếu: là văn bản của vua ban hành để các cấp tuân theo, thực hiện (chiếu chỉ). Biểu: Văn bản các quan dâng vua (như báo cáo). Rõ ràng, một trong các mục đích thi cử thời xưa là đào tạo thư ký “biết soạn thảo văn bản” (gồm chỉ thị, báo cáo...). 
      - Kỳ 3: Thơ phú.
      - Kỳ 4: Văn sách. Thí sinh, phải vận dụng những kiến thức trong tứ thư, ngũ kinh mà mình đã thuộc, để bàn luận vào đề thi.
Tóm lại, nội dung thi thời xưa là hiểu, thuộcvận dụng tốt những gì đã học để chuẩn bị làm trọn nhiệm vụ một ông quan trong ngạch hành chính.
 
Danh hiệu tôn vinh

- Ai qua được kỳ 1 (không qua được kỳ 2) được dân gọi là ông “nhất trường”. Ví dụ, cụ cụ Đỗ Văn Cấp. Còn vị “nhị trường” (không qua được kỳ 3) là cụ Nguyễn Xuân Dương.
- Ai qua được kỳ 3, được chính thức công nhận là sinh đồ; và từ năm 1828 thì sinh đồ đổi thành tú tài (ông Tú). Lệ thường, 3 năm có một đợt thi; nhiều vị sinh đồ (tú tài) tiếp tục đi thi, nếu vẫn không qua nổi kỳ 4, thì được gọi là ông kép, ông mền, ông đụp - tương ứng với 2, 3 và 4 lần tú tài. Ngày nay có lẽ sẽ… ngượng, nhưng thời xưa đó là những danh xưng rất vinh dự. Thiếu tướng Nguyễn Hiền làng ta có cụ nội là “ông đụp”. Ba tấm bia làng ta có tên 114 sinh đồ và 9 tú tài.
- Thi đậu cả 4 kỳ, được gọi là hương cồng, từ năm 1828 đổi thành cử nhân (ông Cống, ông Cử). Các vị này nếu thuộc gia đình có truyền thống thì được vua cho phép học 3 năm ở Quốc Tử Giám để dự thi tiến sĩ. Nếu không đậu, vẫn có danh xưng vinh dự là giám sinh.
Bia làng ta có tên 17 vị giám sinh và 4 vị cử nhân.
 
- Thi Hội và thi Đình
 
Đây là thi ở cấp trung ương (kinh đô), dành cho những người đã đậu hương cống, cử nhân. Số cử nhân cứ tích lại qua nhiều năm, do vậy số người dự thi Hội có thể tới ba ngàn hay bốn ngàn, nhưng số người “đủ điểm” để dự thi Đình chỉ vài chục. Trước năm 1442, thi Đình là một kỳ thi thật sự, do vua ra đề thi và tự tay vua chấm bài. Nhưng từ năm 1442 về sau, ai trúng tuyển ở kỳ thi Hội đã được coi là tiến sĩ (ông Nghè); còn việc thi Đình chỉ là thủ tục. Các tiến sĩ vào gặp vua, thi chiếu lệ, để được công nhận.
Đời nhà Trần, người đậu kỳ thi Đình được gọi là thái học sinh. Đời Lê, được gọi là tiến sĩ. Các tiến sĩ được chia thành 3 bậc, dựa vào kết quả thi. Bậc một là “tiến sĩ đệ nhất giáp”, gồm: Trạng nguyên (có năm không ai đậu trạng nguyên), Bảng nhãn, Thám hoa (gọi là ông trạng, ông Bảng, ông Thám). Bậc hai là “tiến sĩ đệ nhị giáp”; còn gọi là hoàng giáp và bậc ba là “tiến sĩ đệ tam giáp” hoặc “đồng tiến sĩ xuất thân”. Trong mỗi bậc nói trên, Làng Dòng ta có 1 vị: Bùi Ứng Đẩu (thái học sinh), Nguyễn Mẫn Đốc (bẳng nhãn), Nguyễn Chính Tuân (hoàng giáp) và Nguyễn Doãn Cung (đệ tam giáp).

Hoàn thành sự nghiệp khoa cử

Thời xưa, đậu tiến sĩ, coi như hoàn thành sự nghiệp khoa cử. Quãng đời còn lại chỉ phấn đấu thăng quan tiến chức. Có 9 bậc quan chức: thấp nhất là cửu phẩm, cao nhất là nhất phẩm. Khi tạ thế, chỉ cần tóm tắt sự nghiệp bằng một dòng (ví dụ): cụ Nguyễn Doãn Cung, tiến sĩ năm 1469, thăng đến tam phẩm, tước hầu, chức đến Thị Lang. Cụ Nguyễn Mẫn Đốc, bảng nhãn năm 1515, thăng đến lục phẩm, tước vương, chức đến Hàn Lâm Thị Thư.
Thời nay, đào tạo tiến sĩ có mục tiêu duy nhất là nghiên cứu khoa học (giống như đào tạo phi công chỉ nhằm mục tiêu duy nhất là lái máy bay). Sự nghiệp cả đời là các công trình khoa học (để ứng cử giáo sư, phó giáo sư) và số tiến sĩ đã đào tạo ra. 

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

Avata
nguyễn hữu sáu - - Đăng lúc: 02/07/2013 05:23
Các cụ nhà ta xưa giỏi thật, nhưng ngày nay con cháu đã nối tiếp được truyền thống của các cụ hiện nay làng Dòng đã có 46 Giáo sư, Tiến sỹ và trên 800 người có bằng đaị học trở lên
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

test
Công ty Cổ phần Làng Dòng
Sản phẩm - Công ty