1
Sản phẩm - Công ty

Bia ghi việc dựng lại Văn chỉ (PHỤC TÁC TỪ VŨ BI)

Đăng lúc: Thứ năm - 28/11/2013 21:31 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Bia ghi việc dựng lại Văn chỉ (PHỤC TÁC TỪ VŨ BI)

Bia ghi việc dựng lại Văn chỉ (PHỤC TÁC TỪ VŨ BI)

Bia ghi việc dựng lại Văn chỉ (PHỤC TÁC TỪ VŨ BI)
Bia ghi việc dựng lại Văn chỉ
(PHỤC TÁC TỪ VŨ BI)
Bài minh
Xuân Lũng - làng Dòng ta là một trong số rất ít làng Việt cổ ở trung du được tiếng là đất học đã sớm xây cất được những công trình văn hóa để đời mà Văn chỉ là một trong những minh chứng. Việc biểu dương những điều hay, nét đẹp về học vấn, khoa cử của làng bằng hình thức ghi vào bia đá không thể xem là sự thường. Xưa, người có văn học ở làng ta không thiếu. Nay, gặp thời vận, đạo học ở "đất tạo anh tài" Xuân Lũng càng có cơ hưng thịnh và ngày một trở nên đa dạng. Sự hiếu học như một dòng chảy văn hiến không hề bị đứt đoạn và luôn được khơi dậy đúng lúc, chứng tỏ văn giáo làng ta thời nào cũng được coi trọng. Con số vài trăm sĩ tử nho học thành đạt ở các thứ bậc khác nhau cùng đông đảo các tân khoa bảng đời nay, không họ nào là không có, đang nói lên nhiều điều lắm! Và, chính họ đã thôi thúc muôn dân trăm họ làng Dòng cùng với tập thể lãnh đạo địa phương, những người con đồng hương xa quê đồng tâm, nhất trí làm sống lại địa danh Văn chỉ cổ bị hạ giải từ hơn sáu thập kỷ trước, nhằm tiếp tục chấn hưng sự học, đáp ứng nhu cầu thiết thực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới: Làm lại nhà bia, truy lập bia bị mất và dựng bia mới. Khởi đi từ đồng tiền nhỏ của một cháu bé đến bạc triệu của các đấng cao niên, bất kể là người có học vị, học hàm hay người cày ruộng, miễn sao trong, ngoài suôn sẻ. Tháng Trọng xuân năm Tân Mão (2011) khai móng, tháng Trọng thu năm Nhâm Thìn (2012) thì khai trương và hoàn tất việc đặt ba tấm bia cổ được phục chế trên nền đất mới. Chẳng dám sánh với tiên nho về quy mô diện mạo, về sự hoàn bị, dẫu sao đây cũng là tâm nguyện của dân làng, mọi người đều vui, phúc lộc cùng hưởng. Bia mới này ghi việc dựng lại Văn chỉ làng khắc tính danh đa phần là người đương thời hiện diện vào tiết Xuân năm Ngọ (2014) này có lý do sâu xa như vậy. Còn danh thơm các bậc tiền nhân từ 1931 đến nay, những người có công duy trì đạo học, xin được trân trọng khắc tiếp vào mặt bia trước để lưu truyền hậu thế. Chẳng phải là tỏ rõ tính công bằng và nhân văn sao? Văn chỉ làng ta một khi đã trở thành điểm nhấn về nghiệp học, soi tỏ mai sau, là địa chỉ văn hóa tâm linh vốn hợp lòng người chiêm bái, âu cũng là phúc lớn muôn đời vậy.

1.       Những người có công bồi đắp truyền thống hiếu học có tên sau đây:
Khoảng nửa cuối thế kỷ XIX.
* Hội Tư văn.
- Họ Nguyễn Ba ngành: Nguyễn Hoán, Nguyễn Bình, Nguyễn Chấp Trung (Đồ Cân), Nguyễn Cận.
- Họ Nguyễn Tam Sơn: Nguyễn Thế Khoát (Đồ Khoát), Nguyễn Xuân Sắc (Xứ Sắc), Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Văn Bảy.
- Họ Nguyễn Tiết Nghĩa: Nguyễn Trọng Mẫn (Chánh Hội Kính). Bùi Nguyên Phổ (Tổng Phổ). Lê Như Mai, Lê Như Bách.
Những người đặt mốc đầu tiên. Khoảng 1920-1939 và 1931-1944.
* Ngạch Tổng sư:
Đặng Văn Hợp (Tổng Hợp, 1891-1945). Bùi Nguyên Phổ (1893-1965).
- Bậc sơ học yếu lược (tiểu học chưa toàn cấp, bằng certificat). Đào Xuân Du (1896-1971). Nguyễn Thấu (1896-1973)
- Bậc cao đẳng tiểu học (toàn cấp) (diplôme, sau đổi là bằng Thành Chung): Lê Như Thụ (1908-1984); Đặng Văn Ngạn (1911-1971). Họ Nguyễn Nhà Vang: Nguyễn Văn Tiến (1911-1981). Họ Nguyễn Ba ngành: Nguyễn Vàng (1915-1980).
Bằng Sư phạm tiểu học: Họ Nguyễn Tam Sơn: Nguyễn Văn Lợi (1912-2008).
 
SAU 1945
Những người đặt mốc đầu tiên.
Bậc tú tài. Năm 1950. Họ Nguyễn Nhà Vang: Nguyễn Văn Phùng (1928-2011). Họ Nguyễn Ba ngành: Nguyễn Văn Khánh (s. 1928). Năm 1980, ông Khánh đã qua bậc Cao học, ngành Tâm lý học, ĐH Sư phạm, Hà Nội.
Bậc cử nhân. Năm 1957. Họ Nguyễn Ba ngành: Nguyễn Huy (s. 1930), ĐH Y, Hà Nội. Bác sĩ chuyên ngành II. Năm 1959. Họ Nguyễn Tam Sơn: Nguyễn Thị Ngân Long (s. 1937), ngành Sinh học, ĐH Tổng hợp Quốc gia, Hà Nội.
 
2. Các tân khoa bảng có tên sau đây (46 người):
Họ Nguyễn Ba ngành: PGS (Ngành Xây dựng) Nguyễn Khải (s. 1933). PGS.TS (Hóa học) Nguyễn Văn Hải (1936-1994). GS.TS (Ngành chăn nuôi) Nguyễn Văn Thiện (s. 1936). GS.TSKH, Viện sĩ (Ngành Cơ học) Nguyễn Văn Đạo (1937-2006). GS.TSKH (Hóa học) Nguyễn Ngô Thoa (s. 1937). TS (Toán) Nguyễn Thanh Hải (s. 1964). TS (Ngành Y) Nguyễn Quốc Chiến (s. 1966). TS (Công nghệ thông tin) Nguyễn Thái Linh (s. 1974). Họ Nguyễn Tam Sơn: PGS (Triết học) Nguyễn Duy Thông (s. 1935). GS (Ngành Y) Nguyễn Ngọc Lanh (s.1935). GS.TSKH (Lâm nghiệp) Nguyễn Ngọc Lung (s. 1938). TS (Hóa học) Nguyễn Quốc Huy (1949-2012). TS (Ngành Y) Nguyễn Văn Huy (s. 1957). TS (Kinh tế) Nguyễn Quang Hậu (s. 1959). TS (Địa chất) Nguyễn Thị Bích Thủy (s. 1964). Họ Đặng: GS.TS (Ngành Y) Đặng Đức Phú (s. 1941). PGS.TS (Đề tài xã hội hóa sản xuất) Đặng Văn Thắng (s.1951). TS (Kỹ thuật điện tử) Đặng Vũ Hồng (s. 1958). TS (Sinh học) Đặng Diễm Hồng (s. 1960). TS (Kỹ thuật điện tử) Đặng Vũ Hoàng (s. 1963). Họ Đào: PGS.TS (Năng lượng) Đào Ngọc Chân (s. 1940). TSKH (Ra đa) Đào Chí Thành (s. 1953). TS (Toán) Đào Thị Liên (s. 1960). PGS. TS (Điện tử viễn thông) Đào Ngọc Chiến (s. 1974). Họ Nguyễn Mả Nội: TS (Ngành Cảng đường thủy) Nguyễn Văn Phúc (1939-2012). TS (Ngành Thú y) Nguyễn Việt Dũng (s. 1950). TS (Luật học) Nguyễn Đức Mai (s. 1952). TS (Năng lượng) Nguyễn Đức Hoàng (s. 1978). Họ Nguyễn Mả Nghiễn: TS (Hóa học) Nguyễn Hồng Vinh (s. 1955). TS (Ngôn ngữ học) Nguyễn Thị Hồng Thu (s. 1957). TS (Sinh học) Nguyễn Vĩnh Thanh (s. 1978). Họ Đỗ: PGS.TS (Hóa học) Đỗ Văn Đài (s. 1936). TS (Hóa học) Đỗ Nhật Văn (s. 1940). Họ Nguyễn Khắc: GS.TSKH (Đề tài sức bền vật liệu) Nguyễn Văn Liên (s. 1948). TS (Sử học) Nguyễn Thị Oanh (s. 1951). Họ : GS.TSKH (Địa chất) Lê Như Lai (s. 1938). TS (Kinh tế) Lê Như Linh (s. 1967). Họ Nguyễn Nhà Vang: PGS.TS (Hóa học) Nguyễn Văn Thông (s. 1938). Họ : TS (Ngành Thủy sản) Vũ Huy Thủ (s. 1940). Họ Nguyễn Đức: GS.TS (Ngành Y) Nguyễn Văn Mùi (s. 1947). Họ Trần: TS (Sinh học) Trần Hiệp (s.1976). Họ Hoàng: PGS.TS (Hóa học) Hoàng Hữu Văn (s. 1935). Họ Nguyễn Diều Phượng: TS (Ngành Tin Sinh học) Nguyễn Thanh Bình (s.1980). Họ Nguyễn Tiết Nghĩa: TS (Khảo cổ học) Nguyễn Tiến Đông (s. 1962). Nguyễn Quốc Thắng: TS (s 1978). Nguyễn Văn Chiến: TS.
 
2.       Những người đề xuất, vận động, đóng góp dựng lại Văn chỉ có tên sau đây:
- Đảng ủy, HĐND, UBND, UB MTTQ, các ban ngành, đoàn thể.
- Các Hội đồng hương làng Dòng.
- Hội nhà văn.
Nội dung bia này do GS Nguyễn Ngọc Lanh soạn thảo và bài minh bia do nhà văn Nguyễn Văn Toại viết.
 
 
Dự kiến xếp nội dung Bia 4. Sử dụng cả hai mặt:
Trước và Sau
 
     
  Bài Minh  
     
  Danh sách các cụ từ 50 - 80 năm về trước
có công vun đắp truyền thống hiếu học làng Dòng
 
     
  Danh sách các nhà khoa học  
  Danh sách các văn nghệ sĩ  
     
  Danh sách những người đề xuất và vận động
Phục dựng Văn Chỉ
(tại địa phương và những người con xa quê) 
 
     
  Danh sách những người đóng góp lớn về
tiền của, công sức, trí tuệ
 
                 
 
 
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty