1
Sản phẩm - Công ty

Văn bia, Văn chỉ làng Dòng - một biểu tượng văn hóa làng

Đăng lúc: Chủ nhật - 26/05/2013 21:58 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Văn bia, Văn chỉ làng Dòng - một biểu tượng văn hóa làng

Văn bia, Văn chỉ làng Dòng - một biểu tượng văn hóa làng

Văn chỉ, còn gọi là Văn từ hay Từ vũ, không gì khác là dấu tích của Nho giáo ở cấp làng xã, là nơi vừa thờ tự vừa đào tạo nhân tài cho đất nước. Địa phương nào muốn lập Văn chỉ thì phải có nhiều người đỗ đạt mà trước hết phải có người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên, nghĩa là phải có nhân vật và sự kiện để khắc vào bia đá lưu danh muôn thuở ở Văn chỉ. Làng Dòng xã Xuân Lũng, thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã sớm đạt đến tiêu chí gần như bắt buộc đó. Và, cách nay gần năm thế kỷ, Văn chỉ làng Dòng đã ra đời. Vậy, Văn chỉ làng Dòng có bao nhiêu bia? Thật khó trả lời, vì, trong giảm tô và cải cách ruộng đất, do nhận thức yếu kém của lãnh đạo địa phương mà nhiều bia đá cổ của làng Dòng đã bị đập đem nung vôi, "đất thánh" biến thành thổ cư
Văn bia, Văn chỉ làng Dòng - một biểu tượng văn hóa làng
Có bột mới gột nên hồ
Văn chỉ, còn gọi là Văn từ hay Từ vũ, không gì khác là dấu tích của Nho giáo ở cấp làng xã, là nơi vừa thờ tự vừa đào tạo nhân tài cho đất nước. Địa phương nào muốn lập Văn chỉ thì phải có nhiều người đỗ đạt mà trước hết phải có người đỗ đại khoa, từ tiến sĩ trở lên, nghĩa là phải có nhân vật và sự kiện để khắc vào bia đá lưu danh muôn thuở ở Văn chỉ. Làng Dòng xã Xuân Lũng, thuộc huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ đã sớm đạt đến tiêu chí gần như bắt buộc đó. Và, cách nay gần năm thế kỷ, Văn chỉ làng Dòng đã ra đời. Vậy, Văn chỉ làng Dòng có bao nhiêu bia? Thật khó trả lời, vì, trong giảm tô và cải cách ruộng đất, do nhận thức yếu kém của lãnh đạo địa phương mà nhiều bia đá cổ của làng Dòng đã bị đập đem nung vôi, "đất thánh" biến thành thổ cư.
Văn chỉ làng Dòng xưa gồm 2 tòa. Tòa trên là  3 gian thờ Khổng Tử, ông tổ của đạo Nho thờ tự tiên hiền đỗ đại khoa (72 vị) và thờ tứ phối (Nhan Uyên, Tăng Sâm, Mạnh Tử và Khổng Cấp). Hàng năm, các quan hàng huyện, hàng tỉnh thường về đây dâng hương. Học trò trước khi đi thi đều đến Văn chỉ làng cầu phúc. Bút tích lưu lại trên văn bia cho thấy, mỗi tấm bia đá được tạo dựng cách nhiều thập kỷ, có khi hàng thế kỷ hoặc hơn thế. Chỉ tính riêng 3 tấm bia khoa bảng đặt ở khu vực Văn chỉ làng Dòng, xã Xuân Lũng đã có tới 205 người đỗ đạt với đủ các thứ bậc cao, thấp; trong đó có 4 đại khoa là Bùi Ứng Đẩu, Nguyễn Doãn Cung, Nguyễn Mẫn Đốc, Nguyễn Chính Tuân; 21 trung khoa (gồm 17 giám sinh cùng 4 cử nhân là Nguyễn Thông, Nguyễn Văn Kỷ, Bùi Tư Thuận, Đặng Văn Hòa). Đường dốc Đồng Thưa từ năm 1897 đã được vinh danh là "Vinh quy lộ" - đường đón cử nhân Đặng Văn Hòa vinh quy, bái tổ. Trong số các giám sinh phải kể Nguyễn Hãng, từng theo học Quốc tử giám, tác giả hai bài phú nổi tiếng Tịch cư ninh thểĐại Đồng phong cảnh, cũng là một trong những trung thần của nhà Lê. Ngoài ra là nho sinh (12 người), quan chức 8 vị (1 tri phủ, 2 tri châu, 5 tri huyện). Đó là những con số "biết nói". Điều đó chứng tỏ truyền thống hiếu học của làng Xuân Lũng đã có từ rất lâu đời và được lưu truyền liên tục từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ dòng họ này sang dòng họ khác. Truyền thống ấy bắt nguồn từ nhân tố địa lý, nhân tố khuyến học và nhân tố trọng người có học. Trong ba nhân tố ấy thì nhần tố trọng người có học là hết sức quan trọng, vì nó là "đầu ra" cho việc học. Hương ước cổ của làng lại ghi: Khi nào làng có nhiều tiền sẽ mở một trường Âu học! Khoảng những năm 20-30 của thế kỷ trước, trường Viễn Đông Bác cổ Pháp, EFEO, đã cho người lên Xuân Lũng kịp thời in dập lại 3 tấm bia ghi việc học (gồm 5 mặt) cùng một vài tấm bia hưng công khác và những thác bản quý giá này hiện vẫn còn được lưu giữ tại Viên nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội. Đấy là Cấu tác từ vũ bi (dựng năm 1730), Tu tác Từ chỉ biTrùng thuyên bi ký. Những văn bản khắc đá được hình thành dưới dạng những chất liệu rắn, những khối đá rời, thuận tiện cho việc gọt rũa, trang trí, gồm ba bộ phận: Đầu (hay trán bia), thân bia, bệ bia. Đây là "những trang sử đá" có giá trị văn hóa và thẩm mỹ cao. Như vậy, bia Xuân Lũng đã kịp thời có tiếng nói riêng của mình khi lịch sử văn bia Việt Nam đã có bước phát triển phong phú về số lượng và đa dạng về nội dung, góp phần đáng kể vào việc chuyển tải nhưng thông tin ngắn gọn và cần thiết cho đời sau.
Bia Xuân Lũng có hai loại. Bia ghi danh những người đỗ đạt ở các thứ bậc khác nhau (bia khoa bảng) được đặt ở Văn chỉ làng. Bia hưng công, tức bia xác nhận công tích những người tu tạo, sửa chữa, nâng cấp chùa Phổ Quang, gác chuông tam quan ... được đặt ngay tại các công trình nhà Phật. Cổ tích Phổ Quang tự bi là bia có rùa đội, mái che được tạo dựng năm 1620, là bia hưng công duy nhất hiện vẫn còn lưu giữ được trên nền sân chùa (cũng đang bị xuống cấp nghiêm trọng).
Lục tìm và khắc tiếp
"Lục tìm" những vị từ tiền bối đỗ đạt trước khi làng có Văn chỉ. "Khắc tiếp", tức là cố gắng ghi lại, không bỏ sót nhân tài, kể cả những người đang thịnh sự hiện nay. Quan điểm ấy của người xưa được thể hiện rất rõ trong Tu tác từ chỉ bi - Bia ghi việc tu tạo Từ chỉ, bia được dựng vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Sự hiếu học, tinh thần tôn sư, trọng đạo, uống nước nhớ nguồn như một dòng chảy văn hóa không bị đứt đoạn, luôn được khơi dậy và phát huy đúng lúc, tạo động lực cho những người kế nhiệm. Nếu các bia dựng ở Văn Miếu, cấp trung ương, chỉ ghi danh những vị đỗ đại khoa (tiến sĩ) trở lên thì các bia ở Văn chỉ làng Dòng được phép ghi rộng rãi hơn, gồm họ tên những người thành đạt từ cấp nhất trường, nhị trường, đến sinh đồ, tú tài, giám sinh, cử nhân, tiến sĩ, bảng nhãn. Hội Tư văn bản xã xuất hiện vào đầu thế kỷ XVIII, tồn tại cho đến những năm đầu thế kỷ XX với tên gọi mới là hội Văn thân. Hội này không chỉ khắc tên những người đỗ đạt mà còn mở rộng đến các đối tượng khác như xã trưởng, viên tử, miễn sai... tức là những người đã từng thừa hưởng nền giáo dục Nho học.
Trong số những tiến sĩ nho học nổi lên bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, không hẳn vì ông là con vị quan đầu triều Nguyễn Doãn Cung, lại có học vị cao nhất làng mà vì phẩm chất yêu nước của ông - vì phù Lê, diệt Mạc mà ông đã tuẫn tiết cùng thầy học là Trạng nguyên Vũ Duệ, người bản huyện. Ông được gia phong Tiết nghĩa Đại vương, Thượng đẳng phúc thần. Được dựng Tiết nghĩa từ ở quê hương, năm 1667, đời Lê Huyền Tông.
Sau kỳ tích tái dựng đình cả, năm 2010, từ năm 2011, việc khôi phục lại Văn chỉ, một di tích văn hóa cổ của làng, đều bằng tiền tỉ, là một kỳ công ngoài mong muốn. Người có công đầu là Bí thư đảng ủy xã Cấn Xuân Bình và chủ tịch xã Nguyễn Ngô Long. Nhà bia mới đã được tạo dựng trên địa điểm mới thoáng đãng kề bên Ao cá Bác Hồ, có tòa chính đường, trong ngoài có hành lang, trên lợp ngói, sàn lát đá hoa, xung quanh là rào sắt kiên cố, hàng năm hợp tế xuân thu nhị kỳ, con cháu gần xa đã có nơi chiêm bái, văn chương ngưỡng mộ, đạo học phấn chấn. Tháng 9 năm 2012, 3 tấm bia cổ là Cấu tác Từ vũ bi, Trùng thuyên bi kýTu tác Từ chỉ bi đã được phục chế nguyên dạng và đưa về đặt tại Văn chỉ làng với sự hảo tâm công đức của các ông bà Đặng Văn Huấn, Nguyễn Thị Hồng, Nguyễn Tư Liêu. Thế là những tấm bia cổ ẩn giấu nhiều nội dung phong phú về văn hóa làng, về phong tục, tập quán, lối sống ở một miền quê vốn coi trọng chữ nghĩa mà người xưa đã dày công vun đắp sau mấy thập kỷ trôi nổi đã trở về với vị trí xứng đáng của nó, không chỉ với hàng huyện, hàng tỉnh mà còn với cả nước.
Bài minh trong Trùng thuyên bi ký (dựng năm 1793) có câu: "Kẻ sĩ chen vai - Nhà nhà thi lễ", phải chăng đây là bức tranh sinh động về một "xã hội học tập" đã từng được dấy lên từ vài trăm năm trước ở Xuân Lũng, một làng trung du hẻo lánh mà các sĩ tử lều chõng đi thi chỉ bằng đôi chân vượt núi, xuyên rừng? Phát huy truyền thống hiếu học của cha ông, người làng Dòng đời nay đã và đang viết tiếp vào trang sử văn hóa làng mình tên tuổi những người đỗ đạt trên mọi lĩnh vực văn học, khoa học, kinh tế, doanh nghiệp, văn hóa giáo dục..., đáp ứng ngày càng cao nhu cầu xây dựng nông thôn mới. Danh sách các GS, TS, thạc sĩ đã lên tới con số trăm. Những người tốt nghiệp đại học, cử nhân, kỹ sư... đã sấp xỉ cả ngàn. Tất cả đang hợp sức tạo nên một "xã hội học tập" thời đất nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc đạt được những thành tựu xuất sắc về học vấn được sánh ngang với những cống hiến trong các lĩnh vực khác của xã hội. Quan niệm đề cao sự học này trước, sau đều tỏ rõ tính công bằng và nhân văn trong đánh giá phẩm chất một con người. Rõ ràng, Văn chỉ làng Dòng, một biểu tượng văn hóa của làng Xuân Lũng, một địa chỉ văn hóa tâm linh đang thu hút sự chú ý của cả triệu người trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Nhà văn NGUYỄN VĂN TOẠI
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 3 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty