1
Sản phẩm - Công ty

Nguyễn Văn Toại

Đăng lúc: Thứ hai - 26/08/2013 08:40 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Nguyễn Văn Toại

Nguyễn Văn Toại

Nguyễn Văn Toại sinh năm 1940. Quê làng Dòng Xã Xuân Lũng - Huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ. Khi còn là sinh viên, ông đã có thơ và chuyện dịch in trên báo "Văn học". Tác giả trên 40 đầu sách, gồm 3 tập thơ, 2 tập tiểu luận, 7 tiểu thuyết và hàng chục đầu sách dịch. Ông nhận được nhiều giải thưởng Hùng Vương (Phú Thọ) giải của UBTQ LH VHNT VN và của Hội VNDG Việt Nam.
            Nguyễn Văn Toại sinh năm 1940. Quê làng Dòng Xã Xuân Lũng - Huyện Lâm Thao - Tỉnh Phú Thọ. Khi còn là sinh viên, ông đã có thơ và chuyện dịch in trên báo "Văn học". Tác giả trên 40 đầu sách, gồm 3 tập thơ, 2 tập tiểu luận, 7 tiểu thuyết và hàng chục đầu sách dịch. Ông nhận được nhiều giải thưởng Hùng Vương (Phú Thọ) giải của UBTQ LH VHNT VN và của Hội VNDG Việt Nam.
 
ĐỂ KHỎI MANG TIẾNG LÀ “CON CỦA TỪNG NGÀY”
                                                     TÁC GIẢ: NGUYỄN VĂN ĐẠT
 
 

Bên cạnh “đặc khu” trung du với rừng cọ, đồi chè, trong sáng tác của Nguyễn Văn Toại còn nổi lên một đề tài mà nhà văn cũng rất tâm đắc không kém, đó là mảng thực tế miền núi. Điều đó có lý do sâu xa từ vị trí và hành trình công tác của ông. Năm 1964, tốt nghiệp khoa Ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, ông tự nguyện lên Sơn La với cương vị là phóng viên Đài phát thanh Khu Tây Bắc, tác nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La, Lai Châu và Nghĩa Lộ. Đây cũng là lúc cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân của giặc Mỹ đã lan đến tận các bản làng heo hút nhất thuộc phía Tây tổ quốc. Những cuốn sổ công tác bằng thứ giấy bản đen xỉn và đặc biệt là những mẩu tin, những bài bút ký, phóng sự cập nhật kịp thời ghi rõ dấu ấn những năm tháng, những địa danh, những con người mà nhà văn Nguyễn Văn Toại từng đến, từng tiếp xúc cùng với những tư liệu bề bộn, nóng hổi hơi thở cuộc sống sản xuất và chiến đấu của đồng bào các dân tộc từ vùng thấp đến rẻo cao. Ông đã có mặt ở trận địa Phù Yên khi những cột khói bom của Mỹ chưa tan hết, lửa vẫn bốc cháy trên những ngôi nhà vô tội. Trong cuốn tự truyện Vầng trăng mặt sáng, in năm 2012, ông viết: “Tôi tranh thủ lên cả những bản hẻo lánh của người H’Mông, người Puộc, người Xá, người La Hủ… Đôi lúc tôi tự hỏi: Nếu không yêu nghề, không vì mục đích tích lũy vốn sống lâu dài cho nghiệp cầm bút, liệu tôi có đủ nghị lực để đến những nơi xa xôi và gian khổ như vậy không? Mà chỉ đi bằng đôi chân của tuổi đôi mươi, chứ đâu có sẵn xe cộ như bây giờ”
          Đó là những suy nghĩ thực tâm. Chính quê hương máu thịt của ông, làng Dòng xã Xuân Lũng (Phú Thọ), một rẻo đất ven bờ sông Thao, từ thế kỷ thứ XIV, danh sĩ Phạm Sư Mạnh đã gọi là “miền biên viễn”. Nghĩa là, từ năm 1945 trở về trước, Xuân Lũng đã được xếp vào diện địa phương miền núi và bây giờ vẫn vậy. Trung du và miền núi hòa quện làm một trong sáng tác của nhà văn Nguyễn Văn Toại. Đã có không ít nhà thơ viết về trung du. Với Nguyễn Văn Toại, khi đi vào lãnh địa này, ông cũng đã ghi được dấu ấn của riêng mình. Đọc những câu: “Tàu trườn theo dốc vào ga/ Tiếng còi vọng mãi chẳng ra khỏi đồi” “Mưa phùn làm chua bao mùa trám/ Cây cọ vụng về khoe dáng cao” - “Những tiếng chào mào rung chùm nắng/ Cọ xòe tán lá hứng heo may/ Đường mòn thiên thẹo ngang lũng vắng/ Doi rừng còn thơm theo dấu tay”; hoặc: “Dứa thơm bởi đất kén người/ Mẹ ngồi bán nốt nụ cười chông chênh/ Tam quan mái nắng ghập ghềnh/ Chuông chùa ai thỉnh làm vênh ráng chiều”…tôi không khỏi giật mình, tự hỏi: Ờ, sự việc giản đơn vậy, nhưng đâu phải ai cũng phát hiện ra và thể hiện nó bằng những hình tượng thơ dễ được chấp nhận? Rõ ràng bản thân tác giả đã có ý thức gắng bứt lên để tránh lặp lại người đi trước.
          Trên trang đầu của một cuốn sổ ghi chép của Nguyễn Văn Toại thấy ghi lời nhắn nhủ thiện chí của R.Gamdatốp, nhà văn xứ Ddaaghenxtan xa xôi: “Nhà văn nào đi tìm đề tài không phải vì yêu thương hay căm giận mà đi tìm theo mùi hương hay đúng hơn là đánh hơi thì không thể trở thành con của thời đại…mà chỉ là con của từng ngày”.
          Không nhà văn nào lại muốn “là con của từng ngày”. Năm 1972, Nguyễn Văn Toại đã đi thực tế ở tọa độ lửa Nam Ngạn (Thanh Hóa). Sau sáu tháng ăn ngủ gần kề cầu Hàm Rồng, nhà văn đã viết được một số bài bút ký, phóng sự phục vụ kịp thời và truyện ngắn Bức ký họa cuối cùng. Thơ ông đặc tả: “Hạt cơm sạm khói bom/ Cọng rau đắng thuốc súng”. Năm 1979, ông tình nguyện lên phục vụ các tỉnh biên giới phía Bắc. Ông tâm sự: “Đó là những ngày tôi thật sự “vào trận”. Tôi thấu hiểu thế nào là chiến tranh, là hy sinh, đau khổ”. Ông đã đặt chân đến nhiều đồn biên phòng, cột mốc, những vùng giáp ranh, đêm khuya nghe rõ tiếng gà hai nước cùng gáy hồn nhiên, xót xa trước từng tấc đất tiên tổ bị lấn chiếm. Ông đã trải một đêm thức trắng vượt vòng vây của giặc cùng các đồng chí trong thị ủy Cao Bằng. Ông kịp có mặt ở bản Sẩy (huyện Hòa An), nơi 13 chiếc xe tăng “Bát nhất” của giặc bị quân và dân ta tiêu diệt còn đang bốc khói, những xác giặc nằm vắt ngang thành xe cùng những tiếng điện đài tít…tít vẫn chưa tắt hẳn hoặc những thây giặc ngổn ngang dọc bờ ruộng, bên cạnh một bụi tre, góc chuồng trâu. Ông đã sống với bà con Lam Sơn mấy tháng trời, cùng ăn cọng rau rừng, lát sắn khô, chắt chiu từng giọt nước từ khe đá để rửa mặt.
          Đầu những năm tám mươi của thế kỷ trước, Nguyễn Văn Toại chẳng đã viết cả loạt bài trên tạp chí Nghiên cứu văn học về các tác giả và tác phẩm miền núi đó sao? Nhắc lại những việc trên, tôi muốn nói rằng, trung du và miền núi luôn là “chất bột” hợp sở thích để nhà văn Nguyễn Văn Toại “gột nên hồ”. Bởi vậy, những lần đi thực tế của nhà văn hoàn toàn không phải là những chuyến du ký thoảng qua. Ông tâm niệm: Đối với những người cầm bút, vốn sống không khi nào là thừa; như người đi buôn, đòi hỏi phải trường vốn mà sự tích lũy là cả một quá trình, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Sống lâu chưa hẳn đã lên lão làng. Tôi đã đọc Gươm nâng đáp trả, cuốn tiểu thuyết trên ba trăm trang, được viết đi viết lại nhiều lần, in năm 2010, lấy đề tài cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân các dân tộc tỉnh Cao Bằng. Hiện diện trong trong các tác phẩm này là những nhân vật thuộc nhiều tộc người khác nhau, Tày có, Thái có, H’Mông và người Kinh, nhưng mỗi dân tộc đều được miêu tả với những đặc trưng khó lẫn về phong cách sinh hoạt, lối sống, cảnh trí thiên nhiên, trang phục, lời thoại. Vốn sống về miền núi của ông đã đến độ nhuyễn cần thiết.
          Nói văn là người thì điều đó rất đúng với nhà văn Nguyễn Văn Toại. Ông là người ít giao đãi, sống trung thực, thẳng tính nên khó tránh khỏi thiệt thòi, song bù lại, người bạn đời của ông là một kỹ sư đảm đang, chu toàn, tạo cho ông nhiều rảnh rang để ngồi bàn viết. Ông từng phát biểu: nhà văn nghỉ hưu mà không biết làm gì thì không còn là nhà văn nữa. Quả thật, thời gian nghỉ hưu, lịch làm việc của ông thường dày đạc, thấy dòng đời trôi nhanh mà sợ cho sự bất lực của ngòi bút trước những dự định, những tham vọng đặt ra. Ngót tám trăm trang Cướp biển , ông dịch trong vòng ba tháng. Tiểu thuyết Dòng đời xo đẩy, trên ba trăm trang, ông viết đúng bốn tuần. Ông viết nhanh nhưng không ẩn; không chạy theo lối viết giật gân để câu khách. Ông chỉ viết những gì thực hiểu và thực tâm đắc, sách bán được hay không chỉ là thứ yếu. Ông cẩn trọng từng câu chữ, từng dấu chấm phảy như khi biên tập bản thảo cho người khác. Bạn đọc tin ông, muốn nhờ ông đọc thẩm định và biên tập bản thảo cho chính mình cũng là vì thế.
          Trao đổi với nhà thơ Ngô Kim Đỉnh (ở Phú Thọ), ông cho rằng, một nhà văn muốn thành đạt thì ngoài tài năng, không thể xem nhẹ sự học. Nhà văn Nguyễn Văn Toại, ngoài việc học trong thực tế, ông còn tự nâng cao trình độ học vấn của mình bằng cách đến thư viện, các trung tâm lưu trữ Quốc gia, kể cả thư viện Lênin ở Mátxcơva, để tìm thêm tư liệu. Theo ông, là nhà văn nên cố gắng nắm vững một ngoại ngữ. Ông đã tự học và sử dụng được tiếng Nga như một công cụ. Những giá sách trong ngôi biệt thự khang trang của ông chất đầy những quyển vở, trong đó ghi lại đôi khi chỉ là một con số về giá vàng, giá gạo, tên gọi một bộ trang phục, một kiểu để tóc vài cái thời mà ông chưa sinh ra…Ông bảo, đó là những chi tiết văn học xác thực và vô giá.
          Kẻ Dòng nội truyện là tác phẩm viết về quê hương thân yêu của ông. Khi khoác cho đứa con tinh thần của mình chiếc áo “tạp văn” là ông đã có ý dùng một thể loại văn học làm phương tiện chuyển tải những “hạt vàng” tư liệu mà ông đã cất công “đãi cát” tìm được đến với bạn đọc. TS Xuân Thạch nêu vấn đề trên báo văn nghệ: “Cuốn sách… tiếp tục một hướng đi, một cách đi thành công trong quá trình nghiên cứu, biên soạn lịch văn hóa làng xã Việt Nam chăng?”
          Tôi và Nguyễn Văn Toại là đồng hương, lại là bạn cùng chí hướng văn nghiệp. Thái độ lao động bằng ngòi bút nghiêm túc và cần mẫn của ông là nguồn động viên rất thiết thực đối với tôi. Ông là cây bút đa năng, chịu khó thử sức ở nhiều thể loại và nói chung ở thể loại nào ông cũng có ít nhiều đóng góp cho văn đàn. Nếu đọc Kẻ Dòng nội truyện tôi nghiêng về thưởng thức nhiều điều chưa biết, thì ở tiểu thuyết, nhà văn đã khiến tôi phải trăn trở suy ngẫm xung quanh những vấn đề thế thái nhân tình mà ông đặt ra thông qua nội dung tư tưởng cũng như hệ thống hình tượng các nhân vật trong từng tác phẩm cụ thể. Hai cuốn tiểu thuyết Cẩm chướng đỏLấy dây buôc mình, mỗi cuốn dày gần trăm trang in, thuật lại một thế hệ trí thức xã hội chủ nghĩa làm công việc nghiên cứu và giảng dạy ở các trường đại học tầm cỡ, nhưng hỡi ôi, họ rất khó “lớn nổi thành người”! Nhân vật Hai (Cẩm chướng đỏ), Hữu Xoa (Lấy dây buộc mình) phải chăng chỉ là hệ quả tất yếu của những ý đồ xa tực tế mà khởi đầu là một phòng thí nghiệm nặng về phô trương hình thức, rốt cuộc chính họ đã tự trói mình, trói người bằng sợi dây vô hình đưa về từ ngoại bang. Nhà thơ TS Phạm Đình Ân đã có cuộc phỏng vấn tác giả về vấn đề này trên tuần báo Văn nghệ và gọi đó là “dòng chảy ngầm” của tác phẩm. Tiểu thuyết là không gian thoáng đãng cho phép người viết ký gửi những suy nghĩ của mình về hạnh phúc lứa đôi, về sự bền vững của gia đình trong cơ chế thị trường, về quan hệ bạn bè và người đọc có thể tìm thấy trong đó hình bóng của chính tác giả. Một trong những yếu tố tạo nên sự hấp dẫn trong tiểu thuyết của ông là khả năng phân tích sâu sắc tâm lý nhân vật trong những tình huống khác nhau và nhờ vậy mà tác giả đã để lại cho đời những trang văn thấm đẫm suy tư và trải nghiệm. Các nhân vật phái đẹp thường được Nguyễn Văn Toại ưu ái và họ hiện diện trong tiểu thuyết của ông với những mảnh đời lận đận, đa đoan, bất hạnh nhiều hơn là may mắn và kết cục của họ hầu hết bi đát, thậm chí gây ra những bất đồng ý kiến. Sàn và Thục vấn ư? Nhu và Mai Lâm vẫn còn đó; họ xuất thân trong những hoàn cảnh không giống nhau, trình độ học vấn cũng khác nhau nhưng họ có chung một điểm là đẹp cả về ngoại hình lẫn nội tâm, từng làm giới mày rau phải bao phen điêu đứng. Tôi muốn kết thúc bài viết này bằng câu chuyện về hai cô gái người Anh, gốc Việt định cư ở Luân đôn, nhân một chuyến về thăm quê đã không quên đèo bòng theo nỗi ấm ức trước cái chết của Cao Phương trong tiểu thuyết Dòng đời xô đẩy (tái bản năm 1995) và tìm đến tận nhà tác giả để “hỏi cho ra nhẽ”.
- Tại sao nhà văn lại bắt Cao Phương, một phụ nữ xinh đẹp, đáng yêu nhường ấy phải chết? Liệu có nhẫn tâm quá không?
- Thật may mắn cho tôi được đối thoại sòng phẳng với những độc giả như thế này. Có điều, hôm nay các em đến thăm tác giả hay đến để…”gây sự” đấy?
- Cả hai!
- Được thôi. Nhưng nếu để cho Cao Phương sống theo ý muốn của các em thì làm sao có được cuộc gặp gỡ lý thú này? - Nhà văn cười vui, hỏi lại.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty