1
Sản phẩm - Công ty

Văn chỉ làng Dòng

Đăng lúc: Thứ sáu - 11/05/2012 20:41 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
Toàn cảnh chùa Xuân Lũng

Toàn cảnh chùa Xuân Lũng

Người làng Dòng tự hào vì ngôi chùa thâm nghiêm có tên Phổ Quang Tự mà tấm bia còn lại cho thấy nó do công và của cả làng góp lại, từ vị thượng tướng quân, làm quan võ dưới triều Lê Thánh Tông, được phong tước Hầu - cho đến bà vãi “vô danh” Hoàng Thị Đoàn. Bài tán mở đầu văn bia, do một vị Giám sinh là Nguyễn Thừa Bật biên soạn, không những nói lên “việc lớn” tốn nhiều năm mới xong, mà còn cho thấy người xưa đã mãn nguyện biết bao khi để lại một di sản vô giá cho cháu chắt đời sau. Ai mà tính nổi trong hơn nửa thiên niên kỷ ngôi chùa này đã đem lại thiện căn cho biết bao con người của bao thế hệ ở cái làng văn hoá trung du này?

Văn chỉ làng Dòng

 

Nguyễn Ngọc Lanh

 

Người làng Dòng tự hào vì ngôi chùa thâm nghiêm có tên Phổ Quang Tự mà tấm bia còn lại cho thấy nó do công và của cả làng góp lại, từ vị thượng tướng quân, làm quan võ dưới triều Lê Thánh Tông, được phong tước Hầu - cho đến bà vãi “vô danh” Hoàng Thị Đoàn. Bài tán mở đầu văn bia, do một vị Giám sinh là Nguyễn Thừa Bật biên soạn, không những nói lên “việc lớn” tốn nhiều năm mới xong, mà còn cho thấy người xưa đã mãn nguyện biết bao khi để lại một di sản vô giá cho cháu chắt đời sau. Ai mà tính nổi trong hơn nửa thiên niên kỷ ngôi chùa này đã đem lại thiện căn cho biết bao con người của bao thế hệ ở cái làng văn hoá trung du này?

Dân làng Dòng cũng tự hào về ngôi đình đứng sừng sững giữa làng từ cách đây trên 500 năm, tương truyền rằng do sự đóng góp chủ yếu của 4 họ lớn trong làng. Nhưng còn việc san nền, đào móng, gánh gạch, chẻ lạt, khiêng gỗ... thì là mồ hôi của tất thảy “nam, phụ, lão, ấu” trong làng, không trừ ai, bất kể giàu nghèo, sang hèn. Ai cũng muốn góp chút công sức của riêng mình để ngôi đình thật sự là “đình làng”, nhất là để nó xứng đáng thờ Cao Sơn đại vương, con thứ sáu của Lạc Long Quân, được vua cha cho trấn thủ cả một vùng trung du nước Việt khi đức vua trên đường dẫn 50 người con trai từ thượng du về suôi  khai phá châu thổ sông Hồng. Hậu cung đình có bốn chữ “thánh cung vạn tuế” và nhiều sắc phong của nhiều đời vua hậu thế, với hàng trăm mỹ tự, hết lời ca ngợi công đức vị thành hoàng, đã nói lên vị thế làng Dòng. Các bà mẹ làng Dòng vẫn mắng con bằng câu đầu lưỡi : “tội mày to bằng tội phá đình”. Chả là, có đình, làng Dòng mới đáng gọi là một làng, nhân tâm mới được quy tụ, bước chân ra thiên hạ mới dám ngẩng mặt lên. Bởi vậy, trong tâm thức dân làng thì xây đình là việc làm công đức lớn nhất; vậy thì, phá đình ắt là tội ác lớn nhất, không ai và không bao giờ có thể dung tha.

Toàn cảnh chùa Xuân Lũng

Ngôi đền thờ bảng nhãn Nguyễn Mẫn Đốc, một con người được vua ban hai chữ “tiết nghĩa” và được phong tước Đại Vương, cũng là niềm tự hào lớn của dân làng này. Tuy nhiên, di sản văn hoá mà dân làng Dòng tự hào nhất lại là ngôi Văn Chỉ của làng mình, còn gọi là ngôi Từ Vũ. Bởi vì đình, chùa và đền thì mọi nơi đều có, dù lớn hay nhỏ, dù cổ kính hay cận đại. Còn Văn chỉ thì khác : nó là cái Văn Miếu của một vùng nhỏ; nó nói lên truyền thống và sự nghiệp học hành của vùng đó. Văn Chỉ cấp tỉnh và cấp huyện thì cả nước có hàng chục, nhưng Văn Chỉ làng thì đếm không hết 10 đầu ngón tay. Có lẽ cần nhiều luận án tiến sĩ về Lịch Sử và Văn Hoá mới đánh giá được hết ý nghĩa và tác dụng của Văn Chỉ làng, trong đó nổi bật là văn chỉ làng Dòng.

Tuy mới được xây dựng từ năm 1730, với tấm bia kỷ niệm có tên Cấu tác từ vũ, nhưng nó cho thấy truyền thống hiếu học của làng Dòng đã được hình thành vững chắc và đã đơm hoa kết trái từ rất sớm. Cho đến năm đó, tấm bia này đã ghi tên 125 vị, gồm đại khoa, trung khoa và tiểu khoa, đứng đầu là Bùi ứng Đẩu, đỗ thái học sinh (tiến sĩ) năm 1400, mà mấy trăm năm sau còn được Lê Quý Đôn ca ngợi phẩm cách, gọi ông là “cao sỹ”. Và từ đó về sau, còn thêm ít nhất 2 tấm bia ghi tên mấy trăm vị đỗ đạt từ bảng nhãn, tiến sĩ, cho đến vị cử nhân nho học cuối cùng (1906) của triều Nguyễn là Bùi Tư Thuận, có con là Bùi Tư Toàn - liệt sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930). Có thể nói tất cả các họ tộc ở làng Dòng đều có nhiều tổ tiên đỗ đạt và được lưu lại tên họ trong văn bia ở Văn Chỉ. Dân làng đủ sức hiểu rằng việc thờ cúng một vị tổ chỉ được duy trì tới đời thứ năm (ngũ đại mai thần chủ); nhưng nếu tổ tiên đã được ghi tên ở bia Văn Chỉ thì vĩnh viễn được nhớ ơn và được hương khói hàng năm. Đã có những tộc họ trong làng dựa vào các tấm bia Văn Chỉ lập ra danh sách hàng mấy chục đời đỗ đạt của họ mình để thờ riêng ở nhà thờ tổ, với ý thức lưu lại truyền thống hiếu học cho con cháu đời sau. Quả nhiên, đây là việc làm mang lại những kết quả tốt đẹp. Một trong những họ nói trên được báo Gia Đình và Xã Hội gọi là “dòng họ khoa bảng trên đất tổ” vì truyền thống được tiếp nối đến nay. Sau cách mạng tháng 8, các tộc họ ở làng Dòng đã có hàng trăm cử nhân “tân học”, vài chục tiến sĩ và hàng chục giáo sư... chính là bắt nguồn từ truyền thống đó.

Các bài tán mở đầu văn bia gồm những ý cô đọng, súc tích và thâm thuý mà các bậc tiên hiền, tiên nho, muốn căn dặn con cháu cố noi theo trên con đường đi tới học vấn và phẩm hạnh. Vậy thì, theo quan niệm chung của dân làng, phải là loại vô học, vô tình và thờ ơ lắm lắm mới dám coi thường - thậm chí lờ đi - những lời giáo huấn của chính tiên tổ mình.

Có thể nói ngôi nhà cổ kính của Văn Chỉ, dù được xây dựng và tu bổ nhiều lần từ gần 300 năm nay, vẫn chỉ là “phần xác” - nếu hư hỏng hay đổ nát có thể xây lại - còn các tấm bia mới thật sự là “phần hồn”, phần vô giá của Văn Chỉ. Đó là quan niệm chung của dân làng Dòng, được minh chứng qua vụ dân làng liều chết bảo vệ bia Văn Chỉ khi quân Cờ Đen lộ ý định đập phá. Câu chuyện do cụ Nguyễn Hoán, hội trưởng cuối cùng của hội Tư Văn làng Dòng kể lại thì đến nay nhiều người cao tuổi còn nhớ... Sau chiến công giết hai võ quan Pháp là đại uý Francis Garnier và đại tá Henri Rivière trong các trận phục kích ở Cầu Giấy (1884), đạo quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc dần dần thoái hoá thành một đám ô hợp, làm nhiều điều xằng bậy và tàn ác. Dân làng Dòng coi chúng là “giặc” khi chúng định phá bia Văn Chỉ, mặc dù trước đó khi chúng chiếm dụng đất Văn Chỉ đã bị cả làng nguyền rủa, nhưng dân làng vẫn nhẫn nhịn để tránh những xung đột đáng tiếc. Cụ tú tài “kép” Nguyễn Tư Địch vẫn bút đàm với bọn đầu sỏ đóng quân ở làng, làm thơ xướng họa với chúng, mong giữ hoà khí chung, kể cả khi chúng dựa thế cường hào giết cụ “tú kép” Nguyễn Khắc Kiên, rồi sau đó sát hại mấy chục dân làng vào ngày 20 tháng 4 năm Dậu (1885). Nhưng chúng hoàn toàn bất ngờ khi hàng trăm dân làng dưới sự chỉ huy của các bậc túc nho, nhìn chúng bằng những cặp mắt nảy lửa, quyết liều chết bảo vệ các tấm bia Văn Chỉ. Họ coi hành động phá bia - phá di sản văn hoá - là tội ác lớn mà chỉ bọn “giặc” ngoại bang thâm độc nhất mới dám làm.

(báo Văn Nghệ)

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Lanh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

test
Công ty Cổ phần Làng Dòng
Sản phẩm - Công ty