1
Sản phẩm - Công ty

Tám mươi mùa xuân của trường tiểu học Xuân Lũng (những chuyện lạ và không lạ)

Đăng lúc: Thứ sáu - 11/05/2012 20:29 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
đi học

đi học

Tám mươi mùa xuân của trường tiểu học Xuân Lũng (những chuyện lạ và không lạ) Thành lập đầu năm Canh Thân (1920) đến năm nay là Canh Thìn (2000) trường tiểu học Xuân Lũng đã trải qua đúng 80 mùa xuân. Trên chục học sinh đầu tiên nay chỉ còn sót lại một người, cũng đã xấp xỉ tuổi 90: thầy giáo Nguyễn Văn Lợi – có 3 con và 3 cháu nội cũng là thầy giáo.

Tám mươi mùa xuân của trường tiểu học Xuân Lũng

(những chuyện lạ và không lạ)

 

Thành lập đầu năm Canh Thân (1920) đến năm nay là Canh Thìn (2000) trường tiểu học Xuân Lũng đã trải qua đúng 80 mùa xuân. Trên chục học sinh đầu tiên nay chỉ còn sót lại một người, cũng đã xấp xỉ tuổi 90: thầy giáo Nguyễn Văn Lợi – có 3 con và 3 cháu nội cũng là thầy giáo.

Số trường tiểu học trải bảy thập niên ở nước ta tới vài chục, nên trường có tuổi 80 tuy hiếm nhưng không phải điều gì quá lạ. Điều lạ là Xuân Lũng là trường duy nhất mà người Pháp phải mở cho cấp xã vào cái năm 1920 ấy. Nhiều huyện của tỉnh Phú Thọ hồi đó chưa có nổi một trường tiểu học thì vùng này tập trung tới ba trường, trong đó hai trường là "đương nhiên" : đó là “trường phủ” đặt ở phủ lỵ Lâm Thao và “trường tỉnh” đặt ở tỉnh lỵ Phú Thọ (cũng nằm trong đất Lâm Thao) - cách nhau có 13 kilomet. Thế thì hà cớ gì phải đặt một thêm một trường ở xã Xuân Lũng, nằm giữa hai trường trên - cách hai trường trên có 6 và 7 kilomét?

Đi học

Té ra, Xuân Lũng vốn là "đất học", đã từng có nhiều vị đại khoa; hơn nữa dân làng này rất "cứng cổ", nên người Pháp mở trường là để trấn an và để vừa dạy, vừa kể "công khai hoá". Đó là điều không lạ. Nhưng điều lạ là đúng 10 năm sau chính họ phải kết luận "công cốc" trong bản án dành cho ông thầy đầu tiên của trường này. Đó là tổng sư Đặng Văn Hợp.

Ông Hợp là con của một vị cử nhân nho học, do vậy điều không lạ là ông cũng từng theo đòi chữ Hán nhiều năm, mong nối được chí cha, và đã từng nổi tiếng là "văn hay, chữ tốt". Nhưng điều lạ là ngay từ năm 1919, khi các kỳ thi chữ Hán vừa mới bị bãi bỏ, ông là người đầu tiên không nuối tiếc chữ nho, chuyển ngay sang học chữ quốc ngữ - để hai năm sau được bổ nhiệm là tổng sư (thầy giáo cấp tổng) được dạy công lập, được nhà nước trả lương – nghĩa là phân biệt với các vị hương sư (cấp làng) chỉ dạy dân lập, do dân đài thọ. Ông dạy chữ, dạy luôn cả đạo làm người và lòng yêu nước - bằng tấm gương bản thân - vì ông là một lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng, tham gia cuộc khởi nghĩa Yên Bái và bị đày đi Côn đảo cho đến 1945 mới được đưa về đất liền. Chưa kịp ra Bắc xum họp gia đình thì cuộc “kháng chiến chín năm” đã nổ ra, ông tham gia ở miền Nam và hy sinh ở đó.

Lứa học trò đầu tiên của ông có 3 người lần lượt được dân Xuân Lũng tín nhiệm bầu làm chủ tịch xã, những người khác đều tham gia Việt Minh.

 

Một làng có tiếng hiếu học, thì điều không lạ là cha mẹ đua nhau cho con đi học, dù nghèo khó đến đâu; nhưng điều lạ là từ rất sớm trong hương ước làng này đã có cả một mục về khuyến học, gồm nhiều điều khoản, trong đó có cả những điều có tính bắt buộc, như "dạy trẻ con có học thức phổ thông là nghĩa vụ của phụ huynh"; hoặc "trẻ con cứ đến tám tuổi thìphải đi học"...

 

Từ lâu, làng đã có nhiều bậc đỗ đại khoa là điều không lạ; nhưng điều lạ là ngay khi có trường tiểu học dạy quốc ngữ thì dân làng đã tin chắc con em họ sẽ có nhiều người đỗ đạt "tiến sĩ Tây học", do vậy đã bổ sung vào hương ước một điều mới, trong mục Toạ Thứ : "chiếu ngổi thứ nhất dành cho các vị Tây, Nam tiến sĩ...".

Con gái Xuân Lũng có tiếng nuôi chồng, nuôi con thành đạt là điều không lạ; nhưng điều lạ là họ sẵn sàng tuân theo sự sắp đặt hôn nhân của cha mẹ và các bậc già lão để làng  chiêu mộ được những thầy tài nhất, đức nhất. Do dó, suốt 80 năm có nhiều thầy giáo người làng và người hàng xứ đã dạy ở trường này là điều không lạ; nhưng điều lạ là rất nhiều thầy giáo trở thành rể làng, đã sống suốt đời ở ngôi nhà dân làng làm cho; khi chết chôn cất ở nghĩa địa làng. Nhiều trăm học trò trường này trở thành thầy giáo đi dạy khắp thiên hạ là điều không lạ, nhưng điều lạ là hàng trăm con cái thầy giáo đã kế nghiệp cha, để cũng làm thầy. Và lạ hơn nữa là hàng chục gia đình có ba hoặc bốn thế hệ kế tiếp nhau làm thầy.

Đất học thì trọng thầy, điều đó không lạ; nhưng điều lạ là ngày tết chỉ học trò nhỏ tuổi mới được cha mẹ dẫn tới nhà thầy chúc tết, còn khi đã 10, 12 tuổi phần lớn tự biết xin cha mẹ lễ vật và rủ nhau đến chúc tết thầy, không quên chúc cả cô và toàn gia quyến. Thấy như vậy, thầy vui vẻ, phấn khởi đã đành; nhưng suốt ba - bốn chục năm như vậy mà thầy không thấy nhàm, thậm chí có thầy năm nào cũng xúc động đến nghẹn lời vì những câu chúc khá ấp úng, ngô nghê - cố học cho thuộc lòng - của lũ học trò ngày thường nghịch như quỷ sứ, thì quả là điều lạ cho cái tình nghĩa của lũ trò nhỏ ngây thơ và trong sáng kia, dù nay trong số chúng đã có hàng chục giáo sư, vài ba chục tiến sĩ...

Nguyễn Ngọc Lanh (đã đăng báo ND, 1990)

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Lanh
Nguồn tin: (đã đăng báo ND, 1990)
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

test
Công ty Cổ phần Làng Dòng
Sản phẩm - Công ty