1
Sản phẩm - Công ty

Hương ước khuyến học của một làng văn hiến

Đăng lúc: Thứ năm - 27/05/2010 15:49 - Người đăng bài viết: Phanhnguyen
khuyến học

khuyến học

Hương ước xã Xuân Lũng có từ thời xa xưa, khi chữ Hán còn độc tôn, và trải qua thời gian, không phải chỉ có một bản duy nhất. Bản cuối cùng được soạn thảo năm "Bảo Đại thứ sáu", tức năm 1922, nhưng đó là bản đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Chúng ta nhớ rằng chữ quốc ngữ chỉ chính thức được sử dụng từ sau năm 1919. Lời nói đầu của hương ước này có câu : việc soạn thảo lần này "...chiểu hương ước cũ mà làm, điều gì khiếm khuyết thì bổ thêm, điều tệ hại bỏ đi..." - nghĩa là có sự kế thừa và sửa đổi cho hoàn thiện. Với 2 chương, 25 mục, 136 điều, nó thực sự hoàn chỉnh hơn rất nhiều so với hương ước của các xã xung quanh (chỉ có khoảng 40 điều)

 

Hương ước khuyến học của một làng  văn hiến

 

Hương ước xã Xuân Lũng có từ thời xa xưa, khi chữ Hán còn độc tôn, và trải qua thời gian, không phải chỉ có một bản duy nhất. Bản cuối cùng được soạn thảo năm "Bảo Đại thứ sáu", tức năm 1922, nhưng đó là bản đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ. Chúng ta nhớ rằng chữ quốc ngữ chỉ chính thức được sử dụng từ sau năm 1919.

Lời nói đầu của hương ước này có câu : việc soạn thảo lần này "...chiểu hương ước cũ mà làm, điều gì khiếm khuyết thì bổ thêm, điều tệ hại bỏ đi..." - nghĩa là có sự kế thừa và sửa đổi cho hoàn thiện. Với 2 chương, 25 mục, 136 điều, nó thực sự hoàn chỉnh hơn rất nhiều so với hương ước của các xã xung quanh (chỉ có khoảng 40 điều). Nó cũng nói lên trình độ đân trí, trình độ văn hoá của cái làng được tiếng là văn hiến này. Tham gia soạn thảo, có vai trò quyết định của các nhà nho cương trực, sống gần gũi dân làng, có người là cụ cử, cụ tú - không làm quan, mà suốt đời chỉ dạy học. Cố nhiên, không ai nói rằng một văn bản soạn thảo cách đây 4/5 thế kỷ lại không có những hạn chế, thậm chí khiếm khuyết, nhất là nhìn bằng con mắt bây giờ.

Khuyến học

Làng có truyền thống hiếu học; tên tuổi các bậc khoa cử - kể từ cuối Trần, đầu Lê cho đến thời Nguyễn mạt - khắc kín cả hai mặt của dãy bia đá dựng trong Văn Chỉ. Do vậy, trong số 25 mục của hương ước nếu có mục riêng quy định về giáo dục là điều không lạ, chưa kể các mục khác có những điều khoản ít nhiều liên quan tới giáo dục. Đáng chú ý, hương ước khuyến khích vật chất để con nhà nghèo cố theo đuổi nghiệp học, nhưng lại không thưởng vật chất cho người học giỏi, thi đỗ  vì số lượng này quá đông đối với một xã - không thể làm xuể - mà chỉ tôn vinh họ về tinh thần. Ví dụ, điều 125 quy định việc "toạ thứ" thì bao giờ cũng nêu "tiêu chuẩn hàng đầu" là văn bằng, rồi sau mới kể đến hàm, chức. Chẳng hạn, chiếu thứ nhất dành cho tiến sĩ, phó bảng, rồi mới kể đến quan chức các cấp  (văn từ tòng tứ phẩm, võ từ chánh tứ phẩm trở lên). Điều này càng tăng ý nghĩa nếu chúng ta nhớ rằng  tiến sĩ tân khoa chỉ được triều đình xếp là chánh thất phẩm và bình thường phải 15 - 20 năm sau mới được thăng tứ phẩm. Qua đây ta thấy rõ hương ước đã phản ánh một thực tế là làng này đã có nhiều tiến sĩ và đã từng phải giải quyết chuyện "chiếu ngồi" cho các vị  ở chốn đình trung. Chiếu thứ hai thoạt tiên nêu cử nhân, tú tài rồi mới kể đến những người có phẩm và hàm. Lý trưởng (đứng đầu chính quyền xã) chỉ được xếp vào chiếu thứ tư, ngang với khoá sinh - nghĩa là người "có đi thi" nhưng chẳng đỗ bất cứ bằng cấp nào. Bạch đinh xếp vào chiếu thứ sáu (!). Điều 10 trong Tục lệ làng này còn ghi: Vào ngày lễ cầu phúc, dân làng dâng biếu một miếng thịt lợn vai cho các nhà khoa bảng - dù họ chỉ dạy học ở làng (mà không ghi là biếu các quan). Sau khi chết, người đỗ đạt được khắc tên vào bia Văn Chỉ cũng là điều khích lệ rất lớn. Tết Nguyên Đán hằng năm, làng có lễ kính dâng ở Văn Chỉ, cùng với lễ dâng ở đình thờ Đại Vương, chùa và đền thờ quan Bảng nhãn - Tiết Nghĩa Vương. Nói chung, đó chỉ là sự đề cao về tinh thần ... Một số điều khác cũng mang ý nghĩa như vậy: người "có học" cao nhất được "tả văn" để tế thành hoàng (nghĩa là lo về nội dung - đại diện cho dân kính dâng lời chúc tụng và nguyện vọng lên thần linh), còn người có chức vụ cao nhất thì là chủ tế, nghĩa là chỉ việc đọc bản văn tế.
Nuôi heo đất khuyến học

Một chi tiết thú vị : Hương ước 1922 dùng từ Tây, Nam Tiến sĩ, mặc dù đến lúc đó trong làng chưa có ai đỗ "tiến sĩ Tây", nhưng người ta vẫn dám hy vọng (!). Cũng không kém thú vị là: Ai đỗ đạt, không phải khao vọng (chuyện này tuỳ tâm), nhưng phải nộp cho làng 30 đồng để nhập quỹ công; hoặc người đỗ đạt có quyền vào Hội Tư Văn, cứ dựa "theo lệ đã ghi trong bia ở Văn Chỉ" mà làm, nhưng hào lý khi mãn chức mới được xin xét vào hội, và phải.... nộp 15 - 20 đồng sung công quỹ (!). Thực chất, đây là sự mua danh, nhưng qua qui định này ta thấy dân làng quan niệm "danh" về học vấn cao hơn các "danh" khác (!).

Điều khoản đầu tiên về giáo dục (điều 100), mang tính chất "nguyên lý", "tuyên ngôn" hơn là một điều khoản cụ thể. đó là :dạy cho con trẻ có học thức phổ thông là nghĩa vụ của phụ huynh. Và như vậy, dẫu "phụ" mất, thì  "huynh" vẫn còn nghĩa vụ nuôi em đi học (!). Nó cũng nói lên khả năng kinh tế, lòng ham học, trường lớp sẵn.... và các điều kiện khác ở Xuân Lũng để người dân có thể thực thi "nghĩa vụ" trên. Đầu thế kỷ, làng Xuân Lũng có nhiều thầy đồ người bản xã hoặc từ nơi khác được dân thỉnh tới vì nổi tiếng "hay chữ", để mở cùng lúc nhiều trường. Có người đem cả gia đinh tới xin định cư, có người được cha mẹ học sinh cưới vợ cho, trở thành rể làng. Đơn cử: cụ cử nhân Bùi Tư Thuận (tức Bật) sau có con là liệt sĩ trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930), và cụ tú đụp (3 lần đỗ tú tài) sinh ra cụ đồ Cân (Nguyễn Chấp Trung: bản thân tham gia khởi nghĩa Yên Bái, có con nay là thiếu tướng...) đều là các thày đồ  ngụ cư nhiều đời, về sau xin nhập cư chính thức.

Từ 1918, khi các kỳ thi chữ Hán bị bãi bỏ, hương ước 1922 được bổ sung một đoạn rất khích lệ : Khi nào có nhiều tiền công ( quỹ) thì làng mở một trường Âu học. Điều này nói lên sự thức thời, sự đáp ứng một niềm mong đợi. Và nó không phải là điều hứa suông, vì trường "Âu học" - một từ hay được dùng từ hồi Đông KInh Nghĩa Thục - của xã Xuân Lũng thành lập ngay sau năm đó, với thày giáo đầu tiên là cụ tổng sư Đặng Văn Hợp, dạy cả chữ Hán và Quốc ngữ. Ông thày này dạy cả đạo làm người, và tự mình nêu gương : hoạt động cách mạng, bị thực dân Pháp đày đi Côn Đảo, chết, được công nhận liệt sĩ.

Thời xưa, cha mẹ học trò tự lo đón thày, chu cấp mọi khoản, nhưng ở Xuân lũng thì không hoàn toàn như thế. Bởi vì điều tiếp theo, hương ước ghi rõ : Thường năm, làng trích tiền công để chi tiêu vào việc trường và cấp lương cho thày (điều 101). "Cấp lương" hiểu theo cách hồi đó không chỉ là khoản nuôi ăn. Và ngay tiếp đó là một quy định đặc biệt : Trẻ con cứ đến tám tuổi thì phải đi học. Chưa hiểu người xưa thực hiện điều khoản này đến đâu, khi ta biết dưới thời Pháp thuộc 95% dân ta mù chữ. Tuy nhiên, điều có thật là xã Xuân Lũng thanh toán nạn mù chữ cho 95% dân số chỉ trong vài năm sau Khởi Nghĩa Tháng Tám thành công và đến năm 1948 - 1949 đã tự mở được trường cấp II do dân xã đóng góp và tự mời thày - là các vị tú tài, cử nhân từ Hà Nội tản cư lên Phú Thọ, Thái Nguyên..... Trên báo Nhân Dân cuối tuần (ngày 12-1-97) giáo sư Vũ Ngọc Khánh nhớ lại một kỷ niệm sâu sắc nhất của ông: Ông đã đề nghị và được huyện uỷ Nghi Xuân (Hà Tĩnh) tán thành mở trường cấp II của huyện, và đánh giá đó là một "chủ trương táo bạo" và nay được toàn huyện coi là "thành quả vĩ đại của cách mạng Tháng Tám". Vậy thì trường cấp II  Xuân Lũng tự mở cũng có thể coi là thành quả vĩ đại do truyền thống hiếu học của làng được cách mạng Tháng Tám chắp cánh cho... Điều nữa trong hương ước là...  làng trích tiền công mua giấy bút cấp cho học trò nghèo. Ngày nay ta chớ quên khoản "giấy, bút" và quần áo là khoản chi không nhẹ đặt lên vai cha mẹ học trò thuở ấy, đúng như câu hát khuyến học, hồi đó các bà mẹ Xuân Lũng vẫn ru con :...Con ơi! con học cho cần (chăm), bút nghiên cha sắm, áo quần mẹ may...

Đến nay một xã vùng đồi trung du như Xuân Lũng mà đã có hàng trăm thày giáo, hàng trăm cử nhân, nhiều chục tiến sĩ, vài chục giáo sư và phó giao sư, vài chục các nhà quân sự, nhà văn, nghệ sĩ, kinh doanh..., rõ ràng là công lao dạy dỗ của trường cấp I và II ở đó, sự phát huy của cách mạng đối với truyền thống hiếu học cùa làng - một tài sán vô giá của tổ tiên để lại.

Dựa vào luật pháp tiến bộ hiện nay, Xuân Lũng rất cần soạn thảo một hương ước mới, trong đó các quy định về giáo dục có vị trí xứng đáng với thời kỳ hiện đại hoá - công nghiệp hoá đất nước, để phát huy các truyền thống tốt đẹp xưa, và thiết thực thực thi quốc sách giáo dục của Đảng.

 

Nguyễn Ngọc Lanh

(Đã dăng ở báo Nhân Dân)

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Lanh
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu về Làng Dòng

Từ nhiều thế kỷ nay, xã Xuân Lũng - tên nôm là Dòng (kẻ Dòng), vẫn được coi là một làng văn hiến mà sự hiếu học đã trở thành truyền thống nổi trội hẳn lên trong số rất nhiều làng xã thuộc vùng đồi núi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Ngay từ năm 1400, đời nhà Hồ, địa danh "Xuân Lũng" đã thấy xuất hiện...

Đăng nhập thành viên

Thăm dò ý kiến

Bạn quan tâm nhất tới chuyên mục nào trên website?

Văn hóa xã hội

Tin tức, hoạt động nội bộ của làng Dòng

Chuyên mục giáo dục, khuyến học

Chuyên mục nghệ thuật, sáng tác, văn học

Tất cả các ý kiến trên

Hình ảnh hành hương về nguồn

Công ty Cổ phần Làng Dòng
test
Sản phẩm - Công ty